phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chƣơng 1: Vai trò của việc đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành Y tế Việt Nam hiện nay trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam hiện nay (qua khảo sát một số cơ sở đào tạo cán bộ y tế). Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam hiện nay. 5 Chƣơng 1 VAI TRÕ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG CÔNG TÁC CHĂM SÓC, BẢO VỆ SỨC KHỎE NHÂN DÂN 1.
Khái quát về đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực y tế 1. Về đào tạo nguồn nhân lực Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, luôn trung thành với tư tưởng “vì con người và giải phóng con người” của C.Mác, Đảng ta thường xuyên khẳng định “con người là vốn quý nhất của chế độ ta”. Bắt đầu từ đại hội VI, đặc biệt là từ Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó đến nay, Đảng ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đảng ta nhiều lần khẳng định rằng “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [9, tr.21] nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Chính vì vậy nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất, quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nói đến “nguồn nhân lực” (nguồn lực con người, nguồn tài nguyên người), tức là nói đến con người - chủ thể đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững,… Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại 6 hóa…” [11, tr. Khi nói đến khái niệm nguồn nhân lực, cần lưu ý hai phương diện quan trọng: - Thứ nhất, với tư cách là nguồn lực con người - chủ thể không tồn tại một cách biệt lập, mà chúng liên kết chặt chẽ với nhau thành một chỉnh thể thống nhất về tổ chức, tư tưởng và hành động. Nói cách khác, nguồn nhân lực là tổng thể những con người - chủ thể với những phẩm chất nhất định đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm không chỉ những con người - chủ thể đã và đang tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn cả những con người - chủ thể sẽ tham gia vào quá trình này.
Bởi vì, lịch sử tự nhiên của đời sống xã hội là quá trình phát triển kế tiếp nhau của các nền văn minh; trong đó các giá trị do những thế hệ trước tạo ra là nền tảng để những thế hệ sau kế thừa, phát triển và sáng tạo ra những gía trị mới. Không chú ý đến phương diện này của nguồn nhân lực thì không thể triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa có hiệu quả, và do đó, không thể có sự phát triển bền vững của đất nước. Như vậy, khái niệm “nguồn nhân lực” chỉ những thế hệ nối tiếp nhau của những “con người chủ thể” với những phẩm chất nhất định (thể lực, trí lực, nhân cách) đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững"; Đầu tư đào tạo phát triển nguồn lực con người được hiểu ở cả ba lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo, 7 nhưng trong đó giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng nhất.
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm đào tạo được hiểu là: “Đào tạo, quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường phải gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đã thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra kinh nghiệm của người đó quyết định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì quá trình đào tạo mới có hiệu quả cao.
Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học kỹ thuật và văn hóa của đất nước… Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên môn, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tào từ xa" [44, tr. Giáo dục đào tạo đóng vai trò hết sức to lớn trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và nhân tài cho đất nước. Đến lượt nó, chính những con người đã được giáo dục và đào tạo sẽ trở thành yếu tố quyết định sự tiến bộ của xã hội.
Không phải đến bây giờ chúng ta mới nhận ra tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, mà ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân diệt giặc đói, giặc rét và giặc dốt. Trải qua hơn nửa thế kỷ, công tác giáo dục và đào tạo đã thu được nhiều thành tựu đáng phấn khởi. Từ chỗ 95% dân số mù chữ, đến nay Việt Nam có trên 90% dân số biết 8 chữ. Nếu như năm 1945, Việt Nam chỉ có ba trường phổ thông trung học thì đến nay số trường phổ thông các cấp đã đạt tới hơn 20.000 trường với hơn hai mươi triệu học sinh.
Năm 2006 - 2007 cả nước có hơn 100 trường cao đẳng, đại học; gần 500 trường trung học và dạy nghề, trên 90 cơ sở được giao nhiệm vụ đào tạo sau đại học. Ngành giáo dục và đào tạo với lực lượng hơn 80 vạn giáo viên đã đào tạo được 80 nghìn người có trình độ đại học, 9000 tiến sĩ khoa học và tiến sĩ chuyên ngành, trên 3 triệu công nhân kỹ thuật và cán bộ trung cấp. Do hiểu được tầm quan trọng của công tác đào tạo trong việc phát triển nguồn lực con người, trong các văn kiện của Đảng như “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, “Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII”, Đảng ta đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam, của việc giáo dục đào tạo những con người phát triển toàn diện… Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ hiệu quả hơn trong công tác của họ. Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi… của mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể thực hiện một cách có năng suất và hiệu quả trong lĩnh vực công tác của họ, hoặc để làm các công việc khác trong tương lai.
Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho con người lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, chuẩn bị cho con người thích nghi với cuộc sống và khả năng tiếp nhận sự phân công lao động nhất định, hoàn thành tốt công việc được giao. Về đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế Đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế là việc đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng hoặc trung ho ̣c chuyên nghiê ̣p thuộc khối ngành Y tế nhằm 9 trang bị những kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức… cho người làm công tác y tế nhằm mục đích chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho con người. Nội dung của đào tạo về chuyên môn nguồn nhân lực nói chung, và nguồn nhân lực y tế nói riêng, bao gồm ba nội dung chính là: Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa biết nghề, để họ có một nghề nào đó trong nền kinh tế. Đào tạo lại: Là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó hiện không còn phù hợp nữa.
Đào tạo nâng cao trình độ tay nghề: là đào tạo cho những người đã có nghề, để họ có thể đảm nhiệm những công việc phức tạp hơn, có yêu cầu trình độ cao hơn. Mục tiêu chung của đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho đội ngũ cán bộ làm công tác y tế, nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực y tế, đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Trang bị nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý điều hành cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về y tế.