Chương I. Cấu trúc và nội dung chương trình văn học trung đại Việt nam trong sách giáo khoa mới so với sách giáo khoa trước cải cách. Chương II. Đánh giá về việc chọn bài học ở phần văn học trung đại trong sách giáo khoa mới so với sách giáo khoa trước cải cách.
Chương III. Sự đổi mới của nội dung và phương pháp dạy học ở phần văn học trung đại trong sách giáo khoa mới so với sách giáo khoa trước cải cách. - Phần kết luận - những đánh giá chung và kiến nghị 7. Những đóng góp mới của luận văn: - Đánh giá về cấu trúc và nội dung chương trình văn học trung đại Việt nam trong SGK mới.
- Đánh giá về việc chọn các bài học thuộc chương trình văn học trung đại Việt nam trong SGK mới. -Đánh giá về nội dung và phương pháp dạy - học văn học trung đại Việt nam trong chương trình, SGK mới. - Trên cơ sở của sự đánh giá, đưa ra những kiến nghị quan trọng cho sự đổi mới (nếu có) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG CHƢƠNG TRÌNH VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM TRONG SÁCH GIÁO KHOA MỚI SO VỚI SÁCH GIÁO KHOA TRƢỚC CẢI CÁCH 1. Về cấu trúc chƣơng trình: Cấu trúc là một khái niệm dùng để chỉ tổ chức nội tại và sự quan hệ qua lại giữa các yếu tố của tổ chức ấy (150 thuật ngữ văn học).
Theo đó, cấu trúc chương trình văn học trung đại Việt nam trong sách giáo khoa cải cách được hiểu là sự sắp xếp các tác phẩm văn học theo một hệ thống nhất định mà chỉ cần thay đổi vị trí của một tác phẩm là tính hệ thống lập tức bị phá vỡ. Để giáo viên và học sinh THPT có cái nhìn tổng thể và toàn diện về văn học trung đại, các nhà làm sách (kể cả chương trình cũ và mới) đều có ý thức xây dựng chương trình như một cấu trúc hoàn chỉnh. Có điều theo quan điểm của mỗi nhóm tác giả, cấu trúc chương trình được tổ chức không hoàn toàn giống nhau. Trong sách văn học lớp 10 và 11 (chương trình cũ) nội dung kiến thức phần văn học trung đại được sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn học.
Nhóm tác giả Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc, Trần Hữu Tá, Đặng thanh Lê, Nguyễn Đăng Mạnh…đã chia văn học trung đại thành 4 giai đoạn: Thế kỉ X- thế kỉ XV; Thế kỉ XVI – Nửa đầu thế kỉ XVIII; Nửa cuối thế kỉ XVIII- Nửa đầu thế kỉ XIX; Cuối thế kỉ XIX, sắp xếp các tác giả, tác phẩm đưa vào chương trình và sách giáo khoa lần lượt theo tiến trình lịch sử ấy. Cấu trúc chương trình như vậy giúp người dạy và người học ý thức được tính chất vận động, phát triển của văn học dân tộc qua các giai đoạn lịch sử, nhưng lại chưa chú trọng một cách thỏa đáng đến bản chất văn học, đến những giá trị tự thân của các tác phẩm văn chương được đưa vào giảng dạy trong chương trình, dễ tạo ra sự nhầm tưởng đồng nhất giữa lịch sử văn chương với lịch sử dân tộc, nhất là không làm nổi bật đặc trưng thể loại của các tác phẩm trung đại. Sách Ngữ văn cải cách có chia lại các giai đoạn văn học, cũng là 4 giai đoạn nhưng các mốc được đánh dấu khác trước: Thế kỉ X- hết thế kỉ XIV; Thế kỉ XV – hết thế kỉ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XVII; Từ thế kỉ XVIII- Nửa đầu thế kỉ XIX; Cuối thế kỉ XIX. Sự phân chia này được thể hiện trong bài khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX [27, 104].
Cấu trúc chương trình Ngữ văn cải cách, thực tế sắp xếp các tác phẩm văn học không tuân thủ nghiêm ngặt tiến trình lịch sử văn học này. Khắc phục tình trạng chưa chú ý được nhiều đến bản chất văn học của tác phẩm văn chương, chưa chú ý đến quá trình phát triển thể loại văn học trung đại Việt Nam của sách văn học cũ, nhóm tác giả làm sách Ngữ văn lớp 10 và 11 (Sách cải cách): Trần Đình Sử, Phan Trọng Luận, Lã Nhâm Thìn, Trần Nho Thìn… đã xây dựng lại cấu trúc chương trình cho phù hợp hơn. Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình và sách giáo khoa lớp 10 THPT của Bộ giáo dục và đào tạo, 2006 giới thiệu “nhìn chung kiến thức trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới được trình bày theo hệ thống thể loại, kết hợp với tiến trình lịch sử văn học”[21, 49]. “Sách giáo khoa Ngữ văn 10 vẫn phân kì lịch sử văn học nhưng trong từng giai đoạn, các tác phẩm được sắp theo cụm thể loại” [21, 50].
Nếu tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này, sách cải cách sẽ có những ưu điểm nổi bật: vừa kế thừa được thành tựu của bộ sách cũ - giúp học sinh dễ nhận thấy tiến trình văn học sử, thấy được tiến trình vận động, biến đổi và phát triển của nền văn học trung đại Việt Nam, vừa khắc phục được hạn chế của bộ sách ấy như đã nói ở trên. Nhưng trên thực tế, phần văn học trung đại trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11 chủ yếu được sắp xếp theo cụm thể loại. Đây là điểm đổi mới đáng ghi nhận đầu tiên của cấu trúc chương trình văn học trung đại trong sách giáo khoa Ngữ văn cải cách. Chương trình chủ yếu sắp xếp theo nhóm thể loại: Trữ tình (thơ, phú, ngâm khúc); Nghị luận (cáo, tựa, văn bia); Tự sự (Sử kí, truyện văn xuôi, truyện thơ Nôm).
Đối với văn học trung đại nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng thì “thể loại là nhân vật chính, nhân vật số một của tiến trình văn học” [40, 9 ]. Thể loại góp phần thể hiện tính quy phạm và chức năng văn bản, vị trí quan trọng của thể loại trong văn học trung đại còn được xem xét trên bình diện phong cách- phong 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách thể loại. Mỗi thể loại là một phong cách khá bền vững trong quá trình phát triển của văn học trung đại. Cách trình bày theo nhóm thể loại này có mặt tích cực là đi vào bản chất văn học, phương diện hình thức thẩm mỹ được nhấn mạnh hơn trước, song lại có hạn chế là làm mờ nhạt tính chất vận động, thay đổi về nội dung tư tưởng, quan niệm văn học trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, ít nhất là không giúp học sinh có được ý niệm về tính chất vận động này.
Bởi vì người biên soạn trong khi sắp xếp các văn bản văn học theo cụm thể loại đã chưa chú ý nhiều đến tiêu chí tiến trình lịch sử văn học. Chẳng hạn trong chương trình Ngữ văn lớp 10 sách cơ bản, một tác phẩm thơ trữ tình của Nguyễn Trãi, bài “Bảo kính cảnh giới 43” được sắp xếp dạy - học ở tuần thứ 13, nhưng tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” của ông lại được xếp dạy - học ở tuần 19, 20 của chương trình. Hoặc bài thơ “Độc Tiểu Thanh Kí” của Nguyễn Du được dạy - học ở tuần 14, nhưng tác phẩm Truyện Kiều lại xếp ở tuần thứ 28,29,30 của chương trình… Trong hai bộ sách nâng cao, tình trạng sắp xếp không theo thứ tự tiến trình lịch sử văn học cũng diễn ra tương tự. Nhiều trường hợp sắp xếp học văn bản văn học trước rồi mới học tác giả sau như trường hợp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến… Làm như vậy là tính hệ thống tiến trình lịch sử bị phá vỡ, thứ tự thời gian bị đảo lộn, khiến cho giáo viên cảm thấy lúng túng vì không tránh khỏi lặp lại kiến thức và củng cố kiến thức lịch sử văn học cho học sinh.
Chẳng hạn dạy bài “Bảo kính cảnh giới số 43” giáo viên đã phải giúp học sinh nắm những kiến thức về tác gia Nguyễn Trãi, không hiểu được con người Nguyễn Trãi, không nắm được hoàn cảnh ra đời của tập “Quốc âm thi tập” các em khó có thể hiểu được tinh thần, cảm xúc chính xác của bài thơ này- đằng sau tiếng thở dài lặng lẽ, kín đáo là sức sống của một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết với khát vọng hiến dâng cho lí tưởng nhân nghĩa mà tác giả hằng theo đuổi. Để làm được điều này, giáo viên và học sinh sẽ còn lại rất ít thời gian cho việc tiếp cận văn bản. Hơn nữa, đến đầu học kì II, chương trình có một tiết dành cho học tác gia Nguyễn Trãi, lúc đó lại phải 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nói lại thì vừa mất thời gian, vừa gây sự nhàm chán… Còn nhiều trường hợp khác cũng rơi vào tình trạng tương tự. Nguyên nhân dẫn đến sự bất hợp lí trên theo chúng tôi chủ yếu là do một tác giả có thể thành công ở nhiều thể loại, phải đảm bảo tính hệ thống thể loại thì tất yếu một tác giả phải bị “xé lẻ” ra thành nhiều phần, nghĩa là tính lịch sử bị phá vỡ.
Như Nguyễn Trãi vừa thành công ở thể thơ Nôm Đường Luật, vừa thành công ở thơ chữ Hán, phú chữ Hán, lại đặc biệt thành công ở thể văn chính luận (thể Cáo). Nguyễn Du vừa thành công ở các thể thơ trữ tình chữ Hán, vừa đặc biệt xuất sắc trong thể truyện thơ Nôm… Bộ giáo dục, có lẽ cho rằng tác phẩm nào cũng quan trọng, bỏ tác phẩm nào cũng thấy không ổn nên đành chọn cả, chọn cả thì sẽ bất ổn trong việc sắp xếp như đã nói, hơn nữa sự ôm đồm này cũng dẫn đến chuyện quá tải của chương trình sách giáo khoa mới mà nhiều người đã và đang phàn nàn. Về tính hệ thống của tiến trình lịch sử văn học trung đại Việt Nam, giới nghiên cứu văn học sử của nước ta cũng có nhiều điểm không thống nhất. Có người dựa vào các tiêu chí của bản thân văn học (ngôn ngữ văn học, loại hình tác giả, tiến trình thể loại, phong cách lớn…), có người lại khái quát tiến trình lịch sử văn học dân tộc dựa vào những tiêu chí ngoài văn học (Khung lịch sử xã hội, lịch sử chính trị, lịch sử tư tưởng…).
Nhưng cả hai cách làm này đều có chỗ chưa hợp lí: hoặc là sa vào tình trạng đơn giản hóa, không thấy được mối quan hệ mật thiết giữa điều kiện lịch sử xã hội với văn học nghệ thuật. Hoặc là rơi vào tình trạng đồng nhất lịch sử xã hội với lịch sử văn học, không thấy được tính độc lập tương đối của văn học. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của PGS.