Mở đầu - Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn - Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5: Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất làng nghề đúc đồng ở Đại Bái. e 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất làng nghề đúc đồng 2.Một số khái niệm cơ bản về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống a. Nghề truyền thống: - Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó.
Từ đó đã hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề. Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hóa, đồng thời vừa có tính nghệ thuật và mạng đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Những nghề truyền thống thường được truyền theo phạm vi từng làng, mỗi nghề bao giờ cũng có ông tổ của nghề được dân làng ghi công ơn và được thờ phụng từ đời này qua đời khác.
+ Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính chất truyền thống được hỗ trợ e 6 bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên liệu mới. Do vậy khái niệm nghề truyền thống cũng đã được nghiên cứu và mở rộng hơn. Khái niệm này có thể được hiểu rằng: “Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt những sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc” [17].
Làng nghề Lịch sử đã ghi nhận làng nghề ra đời cùng với sự phát triển của quốc gia dân tộc, các làng nghề là sản phẩm của nền văn hoá và văn minh dân tộc, là đặc trưng cho truyền thống kinh tế - văn hoá của xã hội nông thôn Việt Nam. Sản phẩm của làng nghề gắn liền với văn hoá dân tộc, là dấu ấn tự hào của lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Lâu nay khái niệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Có nhà nghiên cứu cho rằng "Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” [17].
Xét về mặt định tính, làng nghề ở nông thôn nước ta được hình thành và phát triển do yêu cầu của phân công lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh mẽ của nông nghiệp, nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ, tự cấp, tự túc. Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. e 7 Năm 2006, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. Theo đó: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống trước hết là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc [6]. Trong các LNTT thường có tuyệt đại bộ phân dân số làm nghề cổ truyền hoặc có một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối. Song sự truyền nghề này không phải là một sự sao chép, mà mỗi người thợ tiếp thu luôn luôn có những cải tiến, làm cho sản phẩm có những nét riêng, độc đáo. Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư số 116/2006/TT- e 8 BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006.
Đối với những làng chưa đạt tiêu chí công nhận làng nghề (theo 2 tiêu chí trên đây) nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.Khái niệm về sản xuất và phát triển làng nghề đúc đồng a. Khái niệm về sản xuất - Kinh tế học có những cách tiếp cận khác nhau khi bàn về sản xuất. Theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị Mác - Lênin thì: “Sản xuất của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người. Sản xuất vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên, nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của mình” [11].
Theo cách tiếp cận của kinh tế học cổ điển, kinh tế học tân cổ điển, hay kinh tế học vi mô, bàn về sản xuất với cách tiếp cận của chủ nghĩa cận biên (marginalism). “Sản xuất là việc tạo ra hàng hóa và dịch vụ có thể trao đổi được trên thị trường để đem lại cho người sản xuất càng nhiều lợi nhuận càng tốt”. Cách tiếp cận này bàn luận nhiều hơn về các chủ thể như: chi phí sản xuất, tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí sản xuất, năng suất lao động cận biên, tỷ lệ thay thế kỹ thuật cận biên, v.v… Khái niệm sản xuất trong tài khoản quốc gia được định nghĩa như sau: “ Sản xuất là quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển những chi phí là vật chất và dịch vụ được sản xuất ra phải có khả năng bán trên thị trường hay ít ra cũng có khả năng cung cấp cho một đơn vị thể chế khác có thu tiền hoặc không thu tiền” [14]. Tóm lại sản xuất là một quá trình sử dụng lao động và máy móc thiết bị để chuyển những chi phí là vật chất, dịch vụ thành sản phẩm vật chất và dịch vụ khác.
Tất cả hàng hóa và dịch vụ đó được sản xuất ra phải có khả năng bán e 9 trên thị trường có thu tiền hoặc không thu tiền. Đối với sản xuất nông nghiệp thì người sản xuất sử dụng sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động nông nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm để sử dụng hoặc để bán nhằm thỏa mã nhu cầu của mình. Khái niệm phát triển Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển: Theo Raanan Weitz, 1995: ”Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” [8]. Phan Thúc Huân, kinh tế phát triển, NXB thống kê TP HCM, 2006 “Phát triển là từ vết tắt của phát triển kinh tế xã hội.
Phát triển là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần cho con người bằng hoạt động tạo ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống” [7]. Theo Nguyễn Thị Oanh, phát triển cộng đồng, XB ĐH Mở BC TP HCM, 1995 thì “Phát triển là quá trình biến đổi về số lượng, đó là sự tăng trưởng. Còn về mặt phẩm chất thì nhất định phải có sự biến đổi về mặt chất lượng theo hướng tiến bộ” [9].
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu chung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm tr về hệ thống giá trị của con người. Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân. Khái niệm về phát triển bền vững đã được hoàn thành tại Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại Johannesburg (Cộng hòa Nam phi) - 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết e 10 hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển. Đó là: Phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.