Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sự phát triển nhanh chóng của các làng nghề nông thôn tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động địa phương. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực đối với môi trường sinh thái. Theo kết quả điều tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại 52 làng nghề điển hình trong cả nước, có tới 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng ở cả ba môi trường đất, nước và không khí; tỷ lệ ô nhiễm vừa và nhẹ đều ở mức 27%. Các công trình nghiên cứu trước đây như của Bùi Văn Vượng (1998) hay Đặng Kim Chi (2005, 2011) đã khái quát hóa những vấn đề lý luận và thực trạng ô nhiễm làng nghề trên phạm vi toàn quốc. Mặc dù vậy, các nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá chi tiết đặc thù môi trường tại từng địa bàn làng nghề cụ thể vẫn còn rất hạn chế.
Thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là một làng nghề mộc truyền thống lâu đời, chuyên sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ và mộc gia dụng. Hoạt động chế biến gỗ tại đây phát triển mạnh, mang lại nguồn thu nhập chủ đạo cho người dân nhưng đồng thời làm phát sinh lượng lớn bụi, tiếng ồn, chất thải rắn và nước thải ngâm gỗ chưa qua xử lý. Đến thời điểm thực hiện đề tài, địa phương hầu như chưa có một công trình khoa học nào khảo sát toàn diện về hiện trạng môi trường và năng lực quản lý chất thải tại chỗ.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiện trạng môi trường và tình hình quản lý môi trường tại làng nghề mộc truyền thống Thủ Độ; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại địa phương.
Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định 6 nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu cụ thể:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng nghề Thủ Độ;
- Tìm hiểu tình hình sản xuất và phát sinh chất thải tại làng nghề Thủ Độ;
- Đánh giá hiện trạng môi trường không khí và môi trường nước của làng nghề;
- Tìm hiểu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng dân cư;
- Đánh giá tình hình quản lý môi trường của làng nghề tại địa phương;
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (ma trận SWOT) trong công tác quản lý và đề xuất các giải pháp quản lý, kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải làng nghề cùng hiện trạng công tác quản lý và xử lý chất thải tại làng nghề mộc Thủ Độ.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thôn Thủ Độ, xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; địa điểm thu thập dữ liệu và phối hợp thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Tường.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 05 năm 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên khung lý thuyết về kinh tế làng nghề và quản lý môi trường nông thôn. Tác giả vận dụng khái niệm làng nghề của Đặng Kim Chi (2005) xác định làng nghề là làng nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về lao động và thu nhập. Tiêu chí xác định làng nghề căn cứ theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2008, bao gồm: tối thiểu 30% tổng số hộ tham gia sản xuất ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật.
Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật phục vụ đánh giá gồm các văn bản của Trung ương và địa phương:
- Cấp Trung ương: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg; Nghị định số 66/2006/NĐ-CP; Thông tư số 116/2006/TT-BNN; Thông tư số 113/2006/TT-BTC; Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề. Các quy chuẩn so sánh bao gồm: QCVN 05:2009/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh), QCVN 26:2010/BTNMT (tiếng ồn), QCVN 27:2010/BTNMT (độ rung), QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp).
- Cấp địa phương tỉnh Vĩnh Phúc: Chỉ thị số 13/CT/TU, Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐND, Quyết định số 73/2007/QĐ-UBND (quy định mức thu phí vệ sinh môi trường nông thôn), Quyết định số 8/2011/QĐ-UBND, Quyết định số 19/2011/QĐ-UBND, Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND, Nghị quyết số 31/2010/NQ-HĐND, Quyết định số 42/QĐ-UBND, và Quyết định số 01/2012/QĐ-UBND quy định phân vùng môi trường tiếp nhận nước thải và khí thải (sông Hồng qua địa bàn áp dụng tiêu chuẩn cột A với lưu lượng dòng chảy từ 200 đến 1000 m³/s; khí thải khu vực nông thôn áp dụng hệ số vùng Kv = 1,2).
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu báo cáo kinh tế - xã hội năm 2012 của UBND xã An Tường; Báo cáo tổng quan các làng nghề huyện Vĩnh Tường năm 2012; kết quả phân tích chất lượng môi trường từ Báo cáo chuyên đề của Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa quan sát trực tiếp các xưởng gia công; phỏng vấn xã hội học bằng bảng hỏi đối với 30 hộ gia đình sản xuất mộc về quy trình, dòng thải, sức khỏe và nhận thức; điều tra phỏng vấn nhóm cộng đồng; thiết lập sơ đồ thể chế đánh giá vai trò của các tổ chức đoàn thể; phân tích ma trận SWOT về quản lý môi trường.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Ứng dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp dữ liệu điều tra, tính toán tỷ lệ cơ cấu kinh tế, nhân khẩu, thâm niên và lập các bảng phân tích môi trường.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Đặt vấn đề
Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nghịch lý giữa hiệu quả tăng trưởng kinh tế và nguy cơ suy thoái môi trường tại các làng nghề nông thôn. Tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu thực nghiệm tại làng nghề mộc Thủ Độ (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường), đồng thời công bố hệ thống mục đích nghiên cứu và 6 yêu cầu chuyên môn cần giải quyết trong khóa luận.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan hệ thống hóa các khái niệm, phân loại và tiến trình phát triển của làng nghề tại Việt Nam. Theo thống kê trích dẫn năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cả nước có 13% số hộ chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ tham gia sản xuất nghề, thu hút trên 29% lao động nông thôn. Trong 40.500 cơ sở làng nghề có 80,1% là hộ cá thể, 5,8% hợp tác xã và 14,1% thuộc hình thức khác. Báo cáo JICA (2004) ghi nhận 2.017 làng nghề với 11 nhóm ngành; trong đó miền Bắc chiếm gần 80% (1.594 làng nghề).
Trình độ kỹ thuật tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng còn lạc hậu, với 70,69% là thủ công bán cơ khí, 29,31% là cơ khí và 0% tự động hóa. Tác giả phân tích tác động tiêu cực của chất thải làng nghề tới sức khỏe cộng đồng: tuổi thọ trung bình người dân làng nghề giảm 5 đến 10 năm so với làng thuần nông; nguy cơ mắc bệnh hô hấp, mắt, da liễu và bệnh nghề nghiệp tăng cao. Đồng thời, văn bản rà soát 33 văn bản pháp luật về môi trường làng nghề và chỉ ra bất cập lớn là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng chung cho mọi đối tượng sản xuất kinh doanh mà không tính đến đặc thù phân tán, thiếu vốn của kinh tế hộ nông thôn.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng là chất thải và hiện trạng quản lý môi trường tại thôn Thủ Độ; giới hạn phạm vi nghiên cứu từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Tác giả chuẩn hóa quy trình thu thập số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý nhà nước kết hợp công cụ điều tra sơ cấp gồm quan sát thực địa, phỏng vấn bảng hỏi 30 hộ làm nghề (N=30), phỏng vấn nhóm cộng đồng, lập sơ đồ thể chế quản lý, phân tích ma trận SWOT và kỹ thuật xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các số liệu điều tra thực tế tại thôn Thủ Độ:
-
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Làng Thủ Độ nằm ngoài đê sông Hồng thuộc xã An Tường (diện tích tự nhiên toàn xã 556 ha, dân số 8.670 người). Làng có địa hình bãi bồi trũng, thường ngập úng vào mùa mưa. Năm 2012, cơ cấu kinh tế làng Thủ Độ ghi nhận: tiểu thủ công nghiệp chiếm 45%, dịch vụ và thu khác chiếm 40%, nông nghiệp chỉ chiếm 15% (trong khi toàn xã nông nghiệp chiếm 35%). Làng có 1.181 nhân khẩu, trong đó 900 người trong độ tuổi lao động; có 255/273 hộ sản xuất mộc (chiếm 93,4%) với 750 lao động tham gia trực tiếp (chiếm 63,5% dân số và 83,3% lực lượng lao động). Về thâm niên, khảo sát 30 hộ cho thấy: 53,3% hộ làm nghề trên 20 năm, 16,7% làm trên 10 năm và 30% mới làm khoảng 5 năm.
-
Tình hình sản xuất và phát sinh chất thải: Làng nghề đạt sản lượng trung bình gần 400 sản phẩm/năm, doanh thu chiếm 60 - 65% tổng thu nhập toàn xã. Đề tài xác định định mức nguyên phụ liệu tiêu hao tính trên 1 m³ gỗ nguyên liệu:
| STT |
Nguyên vật liệu |
Định mức (tính trên 1 m³ gỗ) |
Mục đích sử dụng |
| 1 |
Gỗ |
1 m³ |
Nguyên liệu chính |
| 2 |
Giấy ráp |
0,8 - 1,6 kg |
Gia công, làm nhẵn bề mặt gỗ |
| 3 |
Keo cồn |
0,8 - 4 kg |
Chất kết dính, đóng rắn khi lắp ghép tạo sản phẩm thô |
| 4 |
Bột đắp (bột đá, bột đất, mùn trà) |
1 kg |
Gia công bề mặt, pha chế khắc phục khuyết tật sản phẩm |
| 5 |
Xăng + củ xi |
1,2 lít |
Đánh bóng tạo màu bề mặt |
| 6 |
Sơn, vecni |
1,1 - 2 lít |
Xử lý, làm bóng bề mặt |
Quy trình sản xuất gồm 9 công đoạn với các dòng thải tương ứng: (1) Cưa gỗ khối bằng máy cưa CD (phát sinh bụi, tiếng ồn, mùn cưa); (2) Cưa gỗ theo hình bằng máy vanh (bụi, tiếng ồn, mùn cưa); (3) Bào thẳng lấy mực bằng máy bào (bụi, ồn, phoi bào); (4) Đục cắt mộng thủ công hoặc bằng máy đục, máy khoan (bụi, ồn, gỗ vụn, phôi khoan); (5) Dựng khung sơ bộ kết hợp ghép mộng và dán keo (bụi, ồn, gỗ vụn, mảnh); (6) Làm phẳng và tạo hình bằng máy chà, máy đánh nền (phát sinh lượng bụi rất lớn); (7) Làm nhẵn và sửa khuyết tật bằng nạo, giấy ráp (phát sinh bụi mịn, hơi keo cồn, giấy ráp thải); (8) Khảm trai (vỏ trai thải, bụi, tiếng ồn); (9) Phun sơn bóng và đánh vecni (phát sinh hơi sơn, hơi vecni, cặn sơn thừa, giẻ lau dính sơn).
Chất thải rắn phát sinh tại làng Thủ Độ là 4.537,4 kg/ngày (chiếm 23,2% tổng lượng chất thải rắn làng nghề toàn huyện Vĩnh Tường với 19.553 kg/ngày). Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt là 1.233,4 kg/ngày (27,19%), chất thải rắn sản xuất là 3.304 kg/ngày (72,82%). Bụi phát sinh ước tính trung bình 1,5 kg/hộ/ngày (hơn 400 kg/hộ/năm). 93% hộ (28/30 hộ) xác nhận máy móc gây tiếng ồn lớn, thời gian hoạt động kéo dài 8 - 10 giờ/ngày. Bán kính ảnh hưởng phát tán hơi sơn độc hại vượt trên 30 m nhưng thợ phun sơn chỉ dùng khẩu trang vải thông thường.
- Hiện trạng chất lượng môi trường:
- Môi trường không khí (kết quả đo đạc ngày 16/11/2012 của Trung tâm TN&BVMT tỉnh Vĩnh Phúc):
| STT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Phương pháp |
Mẫu 1 (ngoài khu sản xuất) |
Mẫu 2 (trong khu sản xuất có vận hành máy) |
Giới hạn cho phép |
| 1 |
Nhiệt độ |
°C |
Đo nhanh |
24,6 |
23,8 |
- |
| 2 |
Độ rung |
dB |
Đo nhanh |
50,2 |
53 |
70 (QCVN 27:2010) |
| 3 |
Tiếng ồn |
dBA |
Đo nhanh |
58,9 |
75 |
70 (QCVN 26:2010) |
| 4 |
Bụi PM10 |
mg/m³ |
Trọng lượng |
0,1 |
0,5 |
- |
| 5 |
Bụi tổng số (TSP) |
mg/m³ |
Trọng lượng |
0,21 |
0,76 |
0,3 (QCVN 05:2009) |
| 6 |
NO2 |
mg/m³ |
TCVN 6137:1996 |
0,0019 |
0,0024 |
0,2 (QCVN 05:2009) |
| 7 |
CO |
mg/m³ |
52tCN 352-89 |
5,4 |
6 |
30 (QCVN 05:2009) |
Tại khu vực sản xuất đang vận hành máy, nồng độ bụi tổng số TSP (0,76 mg/m³) vượt giới hạn cho phép hơn 2,5 lần; tiếng ồn (75 dBA) vượt 1,07 lần giới hạn QCVN 26:2010/BTNMT. Ô nhiễm không khí mang tính cục bộ rõ rệt.
-
Môi trường nước mặt sông Hồng (lấy mẫu ngày 20/11/2012 tại bến phà Vĩnh Thịnh): Nước mặt bị ô nhiễm bởi Tổng chất rắn lơ lửng TSS đạt 63 mg/l (vượt 1,26 lần so với giới hạn 50 mg/l của QCVN 08:2008/BTNMT cột B1) và Dầu mỡ khoáng đạt 0,2 mg/l (vượt 2 lần giới hạn 0,1 mg/l). Các chỉ tiêu DO (6,8 mg/l), BOD5 (13,92 mg/l), COD (26,67 mg/l), Amoni (0,179 mg/l) và kim loại nặng (Pb, As, Cd, Fe, Hg, Cr3+) đều nằm trong ngưỡng an toàn.
-
Môi trường nước thải thôn Thủ Độ (kết quả lấy mẫu ngày 19/11/2012):
| STT |
Chỉ tiêu phân tích |
Đơn vị |
Phương pháp |
Kết quả |
Giới hạn cho phép (QCVN 40:2011) |
| 1 |
pH |
- |
TCVN 6492:2011 |
6,19 |
5,5 - 9 |
| 2 |
Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) |
mg/l |
TCVN 6625:2000 |
248 |
100 |
| 3 |
Nhu cầu oxy hòa tan (DO) |
mg/l |
Đo nhanh |
2,71 |
- |
| 4 |
Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5) |
mg/l |
TCVN 6001-1:2008 |
194,2 |
50 |
| 5 |
Nhu cầu oxy hóa học (COD) |
mg/l |
TCVN 6491:1999 |
288,4 |
150 |
| 6 |
Amoni (NH4+/N) |
mg/l |
TCVN 5988:1995 |
34,16 |
10 |
| 7 |
Tổng Nitơ (N) |
mg/l |
TCVN 66624-1:2000 |
38,49 |
40 |
| 8 |
Tổng Phospho (P) |
mg/l |
TCVN 6202:2008 |
19,14 |
6 |
| 9 |
Dầu mỡ khoáng |
mg/l |
TCVN 4582:1988 |
1,3 |
10 |
| 10 |
Tổng Coliform |
MPN/100ml |
TCVN 6187-2:1996 |
94.000 |
5.000 |
Nước thải phát sinh từ ngâm gỗ và sinh hoạt không qua xử lý, xả thẳng ra kênh rạch làm nhiều chỉ số vượt chuẩn rất cao: Tổng Coliform vượt 18,8 lần; BOD5 vượt 3,88 lần; Amoni vượt 3,41 lần; Tổng Phospho vượt 3,19 lần; TSS vượt 2,48 lần; COD vượt 1,92 lần.
-
Sức khỏe cộng đồng: Kết quả phỏng vấn nhóm người dân ghi nhận các bệnh thường gặp nhất là bệnh hô hấp (ở mức độ thường xuyên gặp ở cả người già, người trung niên và trẻ em), tiếp đến là dị ứng da, đau mắt và bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn máy móc.
-
Tình hình quản lý môi trường: UBND xã An Tường chỉ có 01 cán bộ môi trường chuyển ngạch từ xã đội, làm việc kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn. Hoạt động vệ sinh dựa chủ yếu vào phong trào tự quản của Hội phụ nữ và Đoàn thanh niên với mức thu phí rác thải nông thôn 3.000 đồng/khẩu hoặc 20.000 đồng/hộ. Trình độ học vấn của người lao động trực tiếp còn thấp (học hết cấp I chiếm 6,4%, cấp II chiếm 78,6%, cấp III chỉ chiếm 15%), là rào cản lớn đối với ý thức tự giác bảo vệ môi trường.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Chương cuối cùng tổng kết các kết luận rút ra từ thực tiễn nghiên cứu và đưa ra hệ thống kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp tỉnh, huyện đến chính quyền xã An Tường nhằm tăng cường cơ chế kiểm tra, quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề tập trung và bố trí nguồn tài chính, kỹ thuật xử lý ô nhiễm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa bức tranh môi trường làng nghề Thủ Độ qua hệ thống số liệu quan trắc và điều tra thực nghiệm:
- Xác lập lượng chất thải rắn phát sinh tại thôn Thủ Độ là 4.537,4 kg/ngày (trong đó chất thải rắn sản xuất chiếm 72,82%), tương đương 23,2% tổng lượng chất thải rắn làng nghề trên toàn huyện Vĩnh Tường.
- Chứng minh tình trạng ô nhiễm không khí cục bộ nghiêm trọng tại khu vực sản xuất với hàm lượng bụi tổng số TSP (0,76 mg/m³) vượt quy chuẩn QCVN 05:2009/BTNMT hơn 2,5 lần và tiếng ồn (75 dBA) vượt giới hạn QCVN 26:2010/BTNMT.
- Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước thải xả thẳng ra môi trường với các thông số BOD5 vượt gần 4 lần, Amoni vượt 3,41 lần, Tổng Phospho vượt 3,19 lần, TSS vượt gần 2,5 lần, COD vượt 1,92 lần và vi sinh Coliform vượt 18,8 lần so với QCVN 40:2011/BTNMT.
Trên cơ sở phân tích ma trận SWOT, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Nhóm giải pháp quản lý: Kiện toàn đội ngũ cán bộ chuyên trách môi trường cấp xã có đúng chuyên môn đào tạo; tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường; triển khai quy hoạch cụm làng nghề tập trung tách khỏi khu dân cư theo các nghị quyết của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc.
- Nhóm giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Nâng cao ý thức cộng đồng thông qua tập huấn an toàn vệ sinh lao động, trang bị bảo hộ chuyên dụng (khẩu trang lọc hơi hóa chất) cho thợ phun sơn, vận động thu gom phế phẩm mộc.
- Biện pháp xử lý kỹ thuật: Bố trí chụp hút bụi và quạt hút tại các vị trí máy cưa, máy chà nhẵn; xây dựng bể lắng lọc cơ học thu gom xử lý nước ngâm gỗ trước khi thoát ra hệ thống kênh mương chung; tận dụng mùn cưa, dăm bào làm chất đốt hoặc nguyên liệu tái chế nhằm giảm thiểu chất thải rắn.
Khóa luận đóng góp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về hiện trạng dòng thải và các thông số ô nhiễm lý - hóa tại làng nghề mộc truyền thống Thủ Độ, hỗ trợ trực tiếp cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Tường trong việc lập kế hoạch quản lý môi trường nông thôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế:
- Cỡ mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (khảo sát trực tiếp 30 hộ trên tổng số 255 hộ sản xuất của làng nghề), phương pháp phỏng vấn nhóm về mô hình bệnh tật chỉ dừng ở mức đánh giá tần suất theo cảm quan của người dân, chưa có hồ sơ bệnh án y tế đối chứng.
- Về mặt quan trắc môi trường, nghiên cứu phụ thuộc vào nguồn số liệu thứ cấp lấy mẫu đơn lẻ tại một thời điểm (tháng 11 năm 2012) do Trung tâm Tài nguyên và Bảo vệ Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện, chưa thực hiện quan trắc lặp lại qua các mùa khác nhau trong năm 2014.
- Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 4 tháng thực tập tốt nghiệp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả định hướng bao gồm việc mở rộng quy mô lấy mẫu quan trắc không khí và nước ngầm theo chu kỳ các mùa trong năm; tiến hành nghiên cứu thực nghiệm thiết kế hệ thống xử lý bụi gỗ cục bộ chi phí thấp và mô hình thu gom nước ngâm gỗ tập trung phù hợp với khả năng tài chính của các cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường tham khảo cấu trúc báo cáo đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện đồng bằng sông Hồng có làng nghề mộc truyền thống tương tự tham khảo phương pháp tiếp cận và mô hình quản lý cộng đồng.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao nhất gồm: Bảng định mức tiêu hao nguyên phụ liệu (sơn, keo cồn, giấy ráp) trên 1 m³ gỗ nguyên liệu; sơ đồ phân tích 9 công đoạn sản xuất gắn liền với các dòng thải ô nhiễm tương ứng; dữ liệu phân tích hóa lý chi tiết về chất lượng nước thải làng nghề mộc (nước ngâm gỗ kết hợp nước thải sinh hoạt).
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng chất thải rắn phát sinh tại làng nghề mộc Thủ Độ hàng ngày là bao nhiêu và phân bổ như thế nào giữa sinh hoạt và sản xuất?
Tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại làng Thủ Độ là 4.537,4 kg/ngày (chiếm 23,2% tổng lượng chất thải rắn làng nghề của toàn huyện Vĩnh Tường). Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt chiếm 1.233,4 kg/ngày (tương đương 27,19%) và chất thải rắn sản xuất từ gỗ vụn, mùn cưa, dăm bào, giẻ lau sơn chiếm 3.304 kg/ngày (tương đương 72,82%).
2. Công đoạn sản xuất nào tại làng nghề mộc Thủ Độ gây phát tán lượng bụi mịn nguy hại nhất?
Công đoạn gia công làm phẳng và làm nhẵn bề mặt bằng máy chà, máy đánh nền và máy đánh giấy ráp cầm tay là nguồn phát sinh bụi gỗ mịn lớn nhất. Hầu hết các hộ không có hệ thống xử lý, thường dùng quạt thổi trực tiếp ra đường ngõ. Lượng bụi phát sinh ước tính trung bình của một hộ khoảng 1,5 kg/ngày (trên 400 kg/hộ/năm), khiến nồng độ bụi tổng số TSP tại xưởng đạt 0,76 mg/m³, vượt hơn 2,5 lần QCVN 05:2009/BTNMT.
3. Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại thôn Thủ Độ ghi nhận những chỉ tiêu nào vượt quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT?
Mẫu nước thải lấy ngày 19/11/2012 cho thấy có 6 thông số vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp: Tổng Coliform đạt 94.000 MPN/100ml (vượt 18,8 lần); BOD5 đạt 194,2 mg/l (vượt gần 4 lần); Amoni đạt 34,16 mg/l (vượt 3,41 lần); Tổng Phospho đạt 19,14 mg/l (vượt 3,19 lần); Tổng chất rắn lơ lửng TSS đạt 248 mg/l (vượt 2,48 lần); và COD đạt 288,4 mg/l (vượt 1,92 lần).
4. Cơ cấu kinh tế và lực lượng lao động của làng nghề mộc Thủ Độ có đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2012, làng Thủ Độ có 1.181 người với 273 hộ gia đình, trong đó có 255 hộ làm nghề mộc (chiếm 93,4% số hộ) và 750 lao động tham gia sản xuất (chiếm 83,3% tổng số lao động toàn thôn). Về cơ cấu kinh tế, tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng 45%, thương mại dịch vụ chiếm 40%, trong khi nông nghiệp chỉ còn chiếm 15%. Về kinh nghiệm, 53,3% hộ làm nghề có thâm niên trên 20 năm.
5. Thực trạng bộ máy quản lý môi trường tại xã An Tường đang gặp khó khăn gì?
Toàn xã An Tường chỉ có 01 cán bộ phụ trách môi trường nhưng là cán bộ chuyển ngạch từ xã đội, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm và chưa có trình độ chuyên môn về quản lý môi trường. Công tác bảo vệ môi trường chủ yếu trông cậy vào các đợt phát động phong trào quét dọn của Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên với mức thu phí vệ sinh 3.000 đồng/khẩu hoặc 20.000 đồng/hộ, không đủ năng lực xử lý ô nhiễm công nghiệp gia tăng.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Tấn đã phản ánh chi tiết thực trạng môi trường tại làng nghề mộc truyền thống Thủ Độ (xã An Tường, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) qua các dữ liệu thực nghiệm về dòng thải, chất lượng không khí và nguồn nước. Kết quả nghiên cứu chứng minh áp lực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng về bụi tổng số, tiếng ồn và nước thải hữu cơ chưa qua xử lý đang đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng dân cư. Đề tài cung cấp các luận cứ khoa học thực tế xác đáng, hỗ trợ tích cực cho công tác lập quy hoạch cụm làng nghề và hoàn thiện chính sách quản lý môi trường nông thôn tại địa phương.