ĐẶT VẤN ĐỀ 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Trong những năm gần đây, làng nghề nông thôn Việt Nam đã phát triển rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc phát triển làng nghề đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho nông dân, nâng cao thu nhập. Song, bộ mặt của nông thôn có làng nghề hiện nay đã “thay đổi” theo nhiều nghĩa.
Trong đó có cả sự thay đổi về chất lượng môi trường theo hướng tiêu cực. Theo kết quả khảo sát của 52 làng nghề điển hình trong cả nước (do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức) cho thấy, hiện có tới 46% làng nghề môi trường bị ô nhiễm nặng (đối với không khí, nước, đất hoặc cả 3 dạng); ô nhiễm vừa và nhẹ đều chiếm 27%. Vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề gây ra ở Việt Nam đã được đề cập đến qua nhiều thời kỳ trên nhiều khía cạnh như kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường. Điển hình như các công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của Bùi Văn Vượng (1998) hay cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường” năm 2005 và “Báo cáo hiện trạng kinh tế - xã hội làng nghề Việt Nam” năm 2011 của Đặng Kim Chi, đã có những nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay.
Những nghiên cứu này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số giải pháp. Tuy nhiên, các nghiên cứu đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hiện nay hầu như chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn. Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô nhiễm cũng có những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể, chi tiết để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực n 2 trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn.
Thôn Thủ Độ - An Tường là một làng nghề mộc truyền thống, nổi tiếng về kĩ thuật làm đồ gỗ, đồ mĩ nghệ. Sản xuất làng nghề đã đóng góp vai trò đáng kể trong phát triển kinh tế của huyện Vĩnh Tường nói chung và xã An Tường nói riêng. Song, hiện tại hầu như chưa có nghiên cứu chi tiết nào về tình hình môi trường của làng nghề. Từ đó tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường làng nghề mộc truyền thống Thủ Độ, xã An Tường - huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc”.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đánh giá hiện trạng môi trường và tình hình quản lý môi trường làng nghề mộc Thủ Độ, từ đó đưa ra các giải pháp khả thi giúp quản lý môi trường tốt hơn. YÊU CẦU NGHIÊN CỨU • Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội làng nghề Thủ Độ • Tìm hiểu tình hình sản suất và phát sinh chất thải tại làng nghề Thủ Độ • Đánh giá được hiện trạng môi trường làng nghề mộc Thủ Độ; • Tìm hiểu về ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng; • Đánh giá được tình hình quản lý môi trường của làng nghề; • Phân tích thế mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) về quản lý môi trường làng nghề và đề xuất được giải pháp quản lý môi trường làng nghề tốt hơn nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. LÀNG NGHỀ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ Ở VIỆT NAM 2.
Khái niệm làng nghề Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu đời sống. Các hoạt động sản xuất này đã liên kết với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội. Các làng nghề được lan truyền và nhiều hộ gia đình cùng sản xuất một loại sản phẩm. Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn, được cải tiến kỹ thuật hơn và thường được giới hạn trong quy mô nhỏ (làng), dần tách ra khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.
Như vậy, làng nghề đã xuất hiện. Theo Đặng Kim Chi (2005, tr 5) có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”. Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, theo Đặng Kim Chi (2005) các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: - Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc: - Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. Theo Báo cáo hiên trạng môi trường quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. n 4 - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước.
Sự hình thành và phát triển làng nghề Việt Nam hiện nay Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Ví dụ như làng nghề đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh) với hơn 900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại… Nếu đi sâu vào tìm hiểu về nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ để sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc nông nhàn.
Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự phát triển của làng nghề đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nông thôn Việt Nam. Trước đây, làng nghề đóng vai trò là trung tâm sản xuất, trung tâm văn hóa của vùng và khu vực, nơi đây tập trung những thợ thủ công có tay nghề cao và cũng là nơi thể hiện tinh hoa của kỹ thuật sản xuất. Sản phẩm tạo ra phục vụ thị trường lân cận.
Những năm gần đây do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường sản phẩm của các làng nghề không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu. Điều này thúc đẩy sản xuất làng nghề phát triển mạnh góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân nông thôn. Mỗi làng nghề có nét đặc trưng riêng và đem lại lợi ích kinh tế khác nhau cho người sản xuất. Chính vì vậy có sự phân hóa giữa các làng nghề.
Những làng nghề có sản phẩm, có thị trường, đem lại nhiều lợi ích cho người sản xuất thì mở rộng phát triển, lợi ích mang lại cho người sản xuất thấp sẽ bị mai một dần. Đặc điểm và phân loại về làng nghề a. Đặc điểm của làng nghề Mỗi làng nghề tuy có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhưng đều có một số đặc điểm chung sau: - Quy mô sản xuất ngành nghề nhỏ (gia đình, thôn, xóm), trình độ thủ công, thiết bị chắp vá, lạc hậu, cơ sở sản xuất xen lẫn trong khu dân cư. - Lực lượng lao động không phân biệt tuổi tác, giới tính, phần lớn có quan hệ gia đình, dòng họ, được đào tạo theo kiểu “cha truyền con nối”.
- Phát triển không theo quy hoạch, không ổn định, có tính thời vụ thăng trầm phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất và nhu cầu của thị trường. - Các làng nghề từ Bắc vào Nam có tính chất tương đồng về nghề và sản phẩm. Tính văn hóa nghệ thuật do hiện tượng di dân, di nghề và hiện tượng bành trướng tự nhiên của hiện tượng kinh tế xã hội làng nghề. Phân loại làng nghề Để có được những kết quả nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề.
Bởi vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề. Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2009). Theo cách này có thể phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm: + Làng nghề ươm tơ, dệt vải và may đồ da. + Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ.
+ Làng nghề tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…). + Làng nghề thủ công mỹ nghệ, thêu ren. + Làng nghề vật liệu xây dựng, khai thác đá. + Các nhóm ngành khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới.