Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số thông tin chung về y tế tư nhân 1. Khái niệm về y tế tư nhân Y tế tư nhân bao gồm toàn bộ các chủ thể cung cấp dịch vụ về sức khỏe không thuộc sở hữu của Nhà nước, y tế tư nhân có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, cung cấp các loại dịch vụ khám chữa bệnh và phòng bệnh [54]. Vị trí, vai trò của y tế tư nhân Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có hệ thống dịch vụ y tế tư nhân, ở những nước phát triển, y tế tư nhân phát triển mạnh mẽ có thể cạnh tranh được với y tế Nhà nước bằng cách mở các bệnh viện, các viện nghiên cứu, các trung tâm ứng dụng công nghệ cao.với nhiều loại tiện nghi, trang thiết bị hiện đại phục vụ có chất lượng.
Với sự có mặt của y tế tư nhân, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân được cải thiện. Y tế tư nhân có thể thực hiện được các sơ cứu ban đầu và điều trị các bệnh thông thường, làm giảm gánh nặng cho y tế công, đồng thời giúp cho người dân có nhiều sự lựa chọn hơn tùy thuộc vào mức độ chênh lệch và khả năng tài chính. Nhiều bệnh nhân nghèo không phải đến các cơ sở y tế Nhà nước ở xa, do đó không phải chi phí đi lại không cần thiết. Y tế tư nhân cũng có tác động lên y tế công, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy y te công phải cải thiện chất lượng dịch vụ, nâng cao y đức, nâng cấp trang thiết bị và cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ cao trong chẩn đoán và điều trị.
Nhìn chung, sự phát triển của hệ thống y te tư nhân ở các nước cũng rất khác nhau và đa dạng, góp phần làm giảm gánh nặng cho y tế nhà nước, người dân dễ dàng tiếp cận để lựa chọn các dịch vụ y tế thích hợp cho mình hơn. Hình thức tổ chức và hoạt động của y tế tư nhân tại Việt Nam Theo quy định của Pháp lệnh HNYDTN (2003), Nghị định và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Y tế [43] thì HNYDTN bao gồm: Hành nghề y; Hành nghề y dược, y học cổ truyền; Hành nghề dược; Hành nghề vắc xin, sinh phẩm y tế và 5 Hành nghề trang thiết bị y tế. Các cơ sở HNYDTN bao gồm: Cơ sở y, dược tư nhân; Cơ sở y, dược dân lập; Cơ sở y, dược có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ sở y, dược tư nhân là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và quản lý điều hành.
Cơ sở y, dược dân lập là cơ sở do tổ chức đứng ra thành lập, được đầu tư bằng vốn ngoài Ngân sách Nhà nước do tổ chức, cá nhân đóng góp và tự quản lý, điều hành. Cơ sở y, dược có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở liên doanh giữa trong nước với tổ chức nước ngoài. Hình thức tổ chức hành nghề y tư nhân bao gồm 1. Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa 2.
Phòng khám đa khoa 3. Phòng khám chuyên khoa: - Phòng khám nội tổng hợp, phòng khám chuyên khoa thuộc hệ nội - Phòng khám gia đình, phòng tư vấn y tế - Phòng khám chuyên khoa ngoại - Phòng khám chuyên khoa phụ sản, kể hoạch hóa gia đình - Phòng khám chuyên khoa răng hàm mặt - Phòng khám chuyên khoa mắt - Phòng khám chuyên khoa tai mũi họng - Phòng khám chuyên khoa giải phẫu thẩm mỹ - Phòng khám chuyên khoa điều dưỡng, phục hồi chức năng và vật lý trị liệu - Phòng khám chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh - Phòng xét nghiệm: sinh hóa, huyết học, vi sinh, giải phẫu bệnh vi thể 4. Nhà hộ sinh 5. Cơ sở dịch vụ y tế 6.
Cơ sở dịch vụ làm răng giả 7. Cơ sở dịch vụ tiêm (chích), thay băng, đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp - Cơ sở dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà - Cơ sở dịch vụ kính thuốc 6 8. Cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài 9. Các hình thức dịch vụ y tế khác 1.
Điều kiện quy định đối vói các cơ sở hành nghề y tư nhân 1. Chứng chỉ hành nghề được cấp cho người đứng đầu của các cơ sở, chỉ cấp cho cá nhân, mỗi cá nhân chỉ được cấp một chứng chỉ hành nghề để làm người đứng đầu hoặc người quản lý chuyên môn của một hình thức tố chức hành nghề. Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề chỉ cấp cho cơ sở, cơ sở hành nghề y tư nhân chỉ được hành nghề theo phạm vi chuyên môn và tại địa điếm quy định trong giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề. Tùy loại hình hành nghề mà có các quy định về điều kiện nhân sự, cơ sở vật chất, phạm vi hành nghề khác nhau.
Tự chủ về tài chính, nộp thuế theo pháp luật, hưởng lãi, thu nhập theo khả năng lao động 11. Tình hình hoạt động và phát triển của y tế tư nhân trên Thế giói và Việt Nam • 2. Tại các nước đang phát triển Những năm gần đây, khu vực y tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế tại nhiều quốc gia đang phát triển [54][61]. Ở nhiều nước, Chính phủ cung cấp dịch vụ y tế với mục tiêu bảo đảm cho tất cả các nhóm có thu nhập khác nhau được tiếp cận bình đẳng với dịch vụ y tể và là cấu phần chủ đạo của cả hệ thống cung ứng dịch vụ.
Người dân có nhiều cơ hội được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đa dạng. Để đạt được mục tiêu này, nguồn lực cần thiết để cung cấp dịch vụ y tế ngày càng trở nên gánh nặng tài chính cho hầu hết các Chính phủ. Hơn nữa, bệnh nhân ở một số nước đang phát triển sẵn sàng chi trả chi phí y tế cho khu vực y tế tư nhân để nhận được dịch vụ y tế tốt hơn và nhất là theo yêu cầu và phù hợp với khả năng chi trả của họ. Với những lý do này, y tế tư nhân đã được huy động tham gia cung cấp dịch vụ y tế, giảm bớt gánh nặng cho y tế Nhà nước.
Ngân hàng thế giới cho rằng khu vực y tế tư nhân không những tăng thêm nguồn lực để 7 Chính phủ có thể tập trung ngân sách cho người nghèo và các dịch vụ thiết yếu mà còn mở rộng dịch vụ tới những người chưa tiếp cận được [59] [60]. Đối với các nước Mỹ Latinh và Cận sa mạc Sahara, do khủng hoảng kinh tể, ngân sách Nhà nước dành cho y tể bị cắt giảm tới 50% [44] dẫn tới hậu quả là y tế Nhà nước không đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân về khám chữa bệnh, ở đây vai trò của y tế tư nhân đã trở nên quan trọng hơn. Ở các nước mới công nghiệp hoá và các nước khu vực Đông Nam Á do có sự tăng trưởng kinh tế cao nên mức sống của người dân tăng lên và nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế cũng tăng nhưng y tế Nhà nước chưa đáp ứng đủ [44][56]. Đối với một số nước đang trải qua thời kỳ quá độ chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tể thị trường, nguồn bao cấp của Nhà nước bị cắt giảm, dẫn đến tình trạng thiếu trang thiết bị y tế, suy giảm tinh thần và thái độ phục vụ của cán bộ Nhà nước, trong đó có Việt Nam.
Đó là những yếu tố và lý do dẫn đến sự phát triển của hệ thống y tế tư nhân tại các nước này. ở các nước đang phát triển luật pháp cho phép công chức nhà nước làm dịch vụ y tế tư nhân ngoài giờ hành chính [51]. Hành nghề y tế tư nhân vẫn tồn tại với những hình thức phổ biến như là lang y, bà đỡ dân gian, người bán thuốc rong, thầy mo [47][57]. Cho đến tận ngày nay, đối tượng không chính thống này vẫn đảm đương một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho nhiều người dân nông thôn ở các nước đang phát triển.
Ở Thái Lan y tế tư nhân chủ yếu tập trung vào chữa bệnh và đáp ứng yêu cầu của những người có khả năng chi trả, cung cấp những phần y tế công không đáp ứng được. Những năm 1988 đến 1993 tỷ lệ bệnh viện tư nhân tăng với tốc độ 5% năm, trong khi bệnh viện công chỉ tăng 2% năm [50], phòng khám đa khoa tư nhân tăng 4,6% năm còn các cơ sở y tế công tăng 1,3% năm. Ngoài hệ thống bệnh viện công của Nhà nước thì hệ thống bệnh viện tư nhân hoạt động rất mạnh. Hiện nay có đen 270 bệnh viện do tư nhân điều hành với trên 20.000 giường bệnh, nhiều bệnh viện đã được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng toàn cầu theo hệ thống ISO 9002 (của BVQI).
Y tế tư nhân ở Thái Lan đã góp phần làm giảm tải cả bệnh nhân 8 nội trú và ngoại trú, tuy nhiên các cơ sở dịch vụ y tế và nhân lực chủ yếu tập trung ở thủ đô và các thành phố lớn do vậy khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng của người nghèo và người dân ở vùng sâu, vùng xa vẫn rất hạn chế. Vì vậy, người nghèo vẫn phải dựa vào nhà nước để khám chữa bệnh. Đối với các nước đang phát triển, y tế tư nhân chủ yếu cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú [46]. Ở Ấn Độ, có đến 80% số lượt bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân [55], ở Ai Cập tỷ lệ này là 50% [45].
Nhìn chung, y tế tư nhân chỉ chiếm ưu thế mạnh về điều trị ngoại trú còn điều trị nội trú vẫn do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo [45], Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và KHHGĐ cũng là những dịch vụ mà người dân thường lựa chọn khi đến y tế tư nhân vì đây là những vấn đề nhạy cảm. Đối với những bệnh viêm đường sinh dục, bệnh lây truyền qua đường tình dục hay các dịch vụ nạo phá thai thường được người dân lựa chọn nơi điều trị đầu tiên là các phòng khám tư vì các cơ sở tư nhân đảm bảo sự kín đáo, tiện lợi và không sợ mang tiếng. Như vậy, có thể thấy ở các nước đang phát triển y tế tư nhân đã tham gia vào các loại dịch vụ rất đa dạng, góp phần làm giảm gánh nặng cho y tế Nhà nước, đồng thời cũng làm tăng khả năng lựa chọn của người dân đến các cơ sở y tế.