Luận án tiến sĩ thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu qủa giám sát phát hiện điều trị tại huyện bù gia mập tỉnh bình phước 2018 2019

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu quả giám sát, điều trị tại huyện Bù Gia Mập, Bình Phước giai đoạn 2018-2019.

Trường đại học

Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương

Chuyên ngành

Y tế Công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

200
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại Bù Gia Mập Bình Phước 2018 2019

Nghiên cứu tập trung vào thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến 2019. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại địa bàn này vẫn ở mức cao, đặc biệt ở các xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập. Bệnh sốt rét chủ yếu do Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax gây ra, với sự lây truyền qua muỗi Anopheles. Các yếu tố như điều kiện môi trường, di biến động dân cư, và thói quen sinh hoạt của người dân đã góp phần làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

1.1. Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật Real-Time PCR, test chẩn đoán nhanh, và lam máu soi kính hiển vi để xác định tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm chung là 12,5%, trong đó Plasmodium falciparum chiếm ưu thế với 65%. Các nhóm dân tộc thiểu số và người làm nghề nông, lâm nghiệp có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với nhóm khác. Điều này phản ánh sự ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp và điều kiện sống đến nguy cơ nhiễm bệnh.

1.2. Yếu tố dịch tễ liên quan

Các yếu tố dịch tễ như tiền sử mắc bệnh sốt rét, thói quen sử dụng màn chống muỗi, và tiếp xúc với môi trường rừng núi được phân tích. Kết quả cho thấy người có tiền sử mắc bệnh có tỷ lệ tái nhiễm cao hơn. Ngoài ra, việc thiếu các biện pháp phòng chống sốt rét hiệu quả như sử dụng màn tẩm hóa chất cũng làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

II. Hiệu quả giám sát và điều trị sốt rét tại Bù Gia Mập

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các biện pháp giám sát điều trịphát hiện chủ động người nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Các biện pháp can thiệp bao gồm giám sát trực tiếp, điều trị có giám sát, và truyền thông giáo dục sức khỏe. Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị và sạch ký sinh trùng tăng đáng kể sau khi áp dụng các biện pháp này.

2.1. Giám sát và phát hiện chủ động

Việc áp dụng kỹ thuật Real-Time PCR trong giám sát điều trị giúp phát hiện sớm các trường hợp nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở mật độ thấp. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn sự lây lan của bệnh trong cộng đồng. Kết quả cho thấy tỷ lệ phát hiện chủ động tăng 25% so với phương pháp truyền thống.

2.2. Điều trị có giám sát

Phương pháp điều trị có giám sát trực tiếp của nhân viên y tế giúp đảm bảo bệnh nhân tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Kết quả cho thấy tỷ lệ sạch ký sinh trùng sau điều trị đạt 95%, cao hơn nhiều so với điều trị không giám sát. Điều này khẳng định hiệu quả của việc giám sát chặt chẽ trong quá trình điều trị.

III. Đóng góp và hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu đã cung cấp những dữ liệu quan trọng về thực trạng nhiễm ký sinh trùng sốt rét và hiệu quả của các biện pháp giám sát điều trị tại Bù Gia Mập. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như thiếu dữ liệu dài hạn và sự tham gia của cộng đồng trong các biện pháp phòng chống.

3.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã làm rõ tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét và các yếu tố dịch tễ liên quan tại Bù Gia Mập. Đồng thời, nghiên cứu cũng chứng minh hiệu quả của các biện pháp giám sát điều trịphát hiện chủ động trong việc kiểm soát bệnh sốt rét.

3.2. Hạn chế của nghiên cứu

Một số hạn chế của nghiên cứu bao gồm thiếu dữ liệu dài hạn về hiệu quả của các biện pháp can thiệp và sự tham gia chưa đầy đủ của cộng đồng trong các hoạt động phòng chống sốt rét. Điều này cần được cải thiện trong các nghiên cứu tiếp theo.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu chung về bệnh sốt rét 1. Tác nhân gây bệnh và véc tơ truyền bệnh sốt rét Sốt rét là bệnh truyền nhiễm do ký sinh trùng Plasmodium (P. Bệnh lây theo đường máu, chủ yếu là do muỗi Anopheles (An.) truyền, bệnh có biểu hiện lâm sàng điển hình: rét run, sốt, vã mồ hôi.

Có 5 loài ký sinh trùng (KSTSR) gây bệnh cho người, đó là P. Trong 5 loài KSTSR gây bệnh ở người, có 4 loài phổ biến là P. ovale, loài thứ 5 là P. knowlesi KSTSR ở khỉ lây truyền sang người.

Chu kỳ phát triển của KSTSR gồm hai giai đoạn: Giai đoạn sinh sản vô tính ở cơ thể người và giai đoạn sinh sản hữu tính trong cơ thể muỗi. Muỗi truyền bệnh sốt rét chính ở Việt Nam bao gồm An. dirus và An. minimus phát triển mạnh vào đầu và cuối mùa mưa, do vậy vùng có muỗi An.

minimus truyền thì bệnh sốt rét có hai đỉnh vào đầu và cuối mùa mưa. Vùng có muỗi An. dirus thì bệnh sốt rét lan truyền trong suốt mùa mưa, vùng có muỗi An. epiroticus truyền bệnh sốt rét quanh năm.

Tuy nhiên, hiện nay mùa truyền bệnh có thể thay đổi do ảnh hưởng hoạt động theo thời vụ của con người làm tăng sự tiếp xúc với muỗi truyền bệnh. Trường hợp bệnh sau khi xuất hiện cơn sốt đầu tiên, đối với P. falciparum là 7 - 10 ngày, đối với P. ovale từ 02 - 03 ngày đây là giai đoạn trong máu có giao bào.

Nếu không được điều trị triệt để KSTSR có thể phát triển và lan truyền khi có véc tơ truyền bệnh chính. Véc tơ truyền bệnh nhiễm KSTSR sau khi hút máu người có giao bào khoảng 10 ngày có thể truyền bệnh cho người lành và truyền bệnh suốt đời [22]. Miễn dịch sốt rét Mọi người đều có thể mắc bệnh sốt rét, đồng thời có thể nhiễm một hoặc vài loài KSTSR và miễn dịch đối với sốt rét là miễn dịch không bền vững đối với loài 5 KSTSR mắc phải, không có miễn dịch chéo. Ở người có miễn dịch tự nhiên với các loài Plasmodium của chim, bò sát và gậm nhấm.

Các yếu tố cản trở sự xâm nhập vào hồng cầu và cản trở sự phát triển của KSTSR trong hồng cầu. Hồng cầu không có kháng nguyên bề mặt Duffy (-) thì KSTSR do P. vivax không thể xâm nhập được. Do đó, người châu Phi và người Mỹ có Duffy (-) rất ít nhiễm KSTSR do P.

Hồng cầu biến dạng kiểu hình bầu dục làm tính chất màng thay đổi, ngăn cản P. falciparum xâm nhập. Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên thực địa cho thấy hemoglobin S có vai trò làm giảm sự thâm nhập và phát triển của P. Miễn dịch sốt rét có tính đặc hiệu cao đối với các loài Plasmodium khác nhau và đặc hiệu với chu kỳ phát triển, vì vậy có miễn dịch giai đoạn trong hồng cầu không có tác dụng với thoa trùng trong cơ thể muỗi.

Cơ thể chống lại KSTSR nhờ hệ thống miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào. Miễn dịch dịch thể có vai trò quan trọng trong việc chống đỡ KSTSR, ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi thường không bị mắc sốt rét nhờ có kháng thể của mẹ. Điều trị bệnh nhân sốt rét bằng huyết thanh lấy từ người bị mắc sốt rét cho thấy tính đặc hiệu theo loài không tuyệt đối và kháng thể chủ yếu là IgG. Kháng thể dịch thể có hai loại cho biết có sự hiện diện của KSTSR trong cơ thể và loại kháng thể có tính bảo vệ.

Cả hai loại kháng thể này đều được sản xuất dưới sự kích thích của một kháng nguyên từ KSTSR. Loại kháng thể cho biết người bệnh đã có nhiễm KSTSR xuất hiện từ 8-10 ngày sau lần sơ nhiễm. Đại thực bào, lympho T có vai trò trong miễn dịch tế bào của bệnh sốt rét, đại thực bào được kích thích để thực bào các hồng cầu bị nhiễm KSTSR. Trong hiện tượng thực bào có vai trò của kháng nguyên bề mặt của KSTSR còn lưu trên màng hồng cầu sau khi KSTSR xâm nhập vào trong hồng cầu.

Lympho T được kích hoạt trong nhiễm KSTSR ở người cũng như trên thực nghiệm và tương ứng với mức độ miễn dịch bảo vệ ghi nhận được. Lympho T là trụ cột trong đáp ứng miễn dịch sốt rét trên người, ở những người cắt lách thường dễ bị mắc sốt rét nặng, kể cả những loài Plasmodium vốn thường chỉ gây sốt rét ở mức độ nhẹ [22]. Miễn dịch sốt rét không có khả năng tiêu diệt tác nhân gây bệnh, ngăn ngừa tái nhiễm KSTSR mà chỉ là một 6 loại miễn dịch có thể giúp cho bệnh nhân cân bằng với KSTSR ở mật độ thấp không có biểu hiện lâm sàng hoặc chỉ mắc bệnh nhẹ đối với những người sống ổn định trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH). Đây là một trạng thái miễn dịch thu được không toàn diện và không ổn định, khi KSTSR biến mất khỏi cơ thể thì miễn dịch cũng mất theo.

Ở Việt Nam, trong thời gian qua Chương trình quốc gia Phòng, chống sốt rét (PCSR) thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống bệnh sốt rét giảm thấp, nhiều địa phương hiện nay không còn KSTSR nội địa. KSTSR giảm dần qua các năm là một dấu hiệu đáng mừng nhưng cũng đáng lo ngại vì tính miễn dịch của người dân đối với bệnh sốt rét trong cộng đồng giảm dần hoặc hết miễn dịch sẽ tạo điều kiện cho sốt rét quay trở lại khi có mầm bệnh xâm nhập từ các vùng SRLH trong hoặc ngoài nước cùng với sự phục hồi của véc tơ truyền bệnh sốt rét do giảm dần hoặc ngừng triển khai các biện pháp can thiệp trong cộng đồng. Hiện nay, đối tượng dân di biến động đi vào các vùng SRLH dẫn đến nguy cơ gia tăng sốt rét rất đáng lo ngại [14]. Qua kết quả nghiên cứu tính sinh miễn dịch sốt rét tại vùng SRLH của một số tác giả Lê Thành Đồng, Nguyễn Văn Nam, Tạ Thị Tĩnh, Đoàn Hạnh Nhân (1997) về Áp dụng kỹ thuật kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA test) đánh giá dịch tễ sốt rét huyện Vân Canh, cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR tại điểm điều tra rất thấp chỉ 0,93% nhưng tỉ lệ người dân có kháng thể chống sốt rét được phát hiện theo phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA) tương đối cao chiếm 65%.

Tỷ lệ KSTSR được phát hiện tại các vùng SRLH thấp không phản ánh đúng mức độ lưu hành sốt rét trong cộng đồng các vùng đang lưu hành sốt rét. Do vậy, qua kết quả đánh giá kháng thể bằng kỹ thuật IFA cho phép nhận định mức độ lưu hành bệnh sốt rét tại Vân Canh trước đây khá cao. Nhóm tuổi và số lần mắc sốt rét ở người dân có liên quan thuận với tỷ lệ người có IFA dương tính [6]. Theo nghiên cứu của Đoàn Hạnh Nhân (1997) tỷ lệ người nhiễm ký sinh trùng và có đáp ứng miễn dịch sốt rét được thực hiện tại huyện đảo Phú Quốc cho thấy tỷ lệ người nhiễm KSTSR chiếm 2,9% trong tổng số mẫu được điều tra, trong đó nhiễm KSTSR do P.

falciparum chiếm 54,4% và P. vivax chiếm 45,5% và tỷ lệ đối tượng 7 có đáp ứng kháng thể kháng KSTSR chiếm 28,8%. Tỷ lệ có đáp ứng miễn dịch và nhiễm KSTSR ghi nhận được tại các điểm tra ở đối tượng <4 tuổi cho thấy có sự lan truyền của ký sinh trùng sốt rét tại chỗ. Kết quả điều tra đáp ứng miễn dịch và hiệu quả điều trị người nhiễm KSTSR ở tuyến cơ sở thuộc vùng SRLH nặng cho thấy, tỷ lệ đối tượng nhiễm KSTSR được phát hiện bằng kỹ thuật xét nghiệm lam máu soi kính hiển vi chiếm từ 25-38% và tỷ lệ đối tượng có đáp ứng miễn dịch sốt rét trong cộng đồng tại địa điểm nghiên cứu chiếm 80-90% và những đối tượng nhóm tuổi >40 tuổi có tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với sốt rét cao nhất chiếm 100%.

Đặc biệt tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm <4 tuổi cao hơn các nhóm tuổi khác từ 30-40%, tỷ lệ mang giao bào ở nhóm tuổi này chiếm 18,7% cao hơn nhóm >44 tuổi là 5,8% [23], [24]. Nghiên cứu của Hoàng Thị Mai Anh, Trịnh Ngọc Hải, Phạm Nguyễn Thúy Vy (2012) đánh giá đáp ứng miễn dịch của người dân đối với người nhiễm KSTSR do P. falciparum ở hai xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập thuộc vùng SRLH nặng của tỉnh Bình Phước, cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR P. falciparum đáp ứng với miễn dịch IFA (+) chiếm 35% và 27%.

Trong đó, tại Đắk Ơ nhóm tuổi từ 15-45 tuổi có đáp ứng miễn dịch với KSTSR do P. falciparum chiếm 90,7% và xã Bù Gia Mập chiếm 88,7%, ở nhóm tuổi từ 0-5 tuổi chưa phát hiện có miễn dịch với bệnh và nhóm 6-14 tuổi có miễn dịch với bệnh chiếm 1,4%. Riêng ở nhóm tuổi >45 tuổi tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với loài KSTSR này chiếm 9,3% tại Đắk Ơ và 9,9% tại xã Bù Gia Mập. Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch với bệnh sốt rét ở người dân sinh sống trong vùng SRLH nặng không có sự khác biệt về nhóm tuổi, có sự tương quan thuận giữa nhóm tuổi với mức độ đáp ứng miễn dịch, nhóm tuổi càng cao thì tỷ lệ đối tượng có miễn dịch với bệnh càng cao.

Miễn dịch sốt rét có liên quan đến triệu chứng lâm sàng của bệnh và việc phát hiện sớm đối tượng nhiễm KSTSR ở những người trưởng thành sinh sống trong vùng SRLH có thể bị nhiễm KSTSR nhiều lần hoặc người mang KSTSR mật độ thấp không biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng không rõ và khả năng chống lại nhiễm KSTSR ở trẻ em thấp. Trong điều trị người nhiễm KSTSR, đối với những người có miễn dịch sốt rét hiệu quả điều trị cao hơn người chưa có miễn dịch với bệnh. Ở những quần thể dân 8 cư có miễn dịch thấp bệnh sốt rét có nguy cơ quay trở lại gây thành dịch khi có mầm bệnh và yếu tố truyền bệnh, do đó ở các vùng không còn SRLH cần duy trì biện pháp phòng chống tích cực, đặc biệt giám sát, quản lý các đối tượng dân di biến động trở về từ các vùng SRLH [1]. Qua kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, người dân sinh sống lâu trong vùng SRLH hành, dân di biến động vào vùng SRLH và người đã từng mắc sốt rét thường có miễn dịch cao với bệnh, đôi khi bị nhiễm KSTSR nhưng không biết vì không có biểu hiện lâm sàng của bệnh.

Do đó, có thể từ những đối tượng này là nguồn lây cho người dân trong cộng đồng khi có sự hiện diện của véc tơ truyền bệnh sốt rét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực Trạng Nhiễm Ký Sinh Trùng Sốt Rét Và Hiệu Quả Giám Sát Điều Trị Tại Bù Gia Mập, Bình Phước (2018-2019) là một nghiên cứu quan trọng tập trung vào tình hình nhiễm ký sinh trùng sốt rét tại khu vực Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2018-2019. Tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về tỷ lệ nhiễm bệnh mà còn đánh giá hiệu quả của các biện pháp giám sát và điều trị, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện công tác phòng chống sốt rét. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, cán bộ y tế và những ai quan tâm đến sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là trong bối cảnh bệnh sốt rét vẫn còn là mối đe dọa tại nhiều vùng nông thôn và miền núi.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh ký sinh trùng, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la, nghiên cứu này cung cấp góc nhìn toàn diện về sự lây truyền ký sinh trùng giữa người và động vật. Ngoài ra, nếu quan tâm đến các vấn đề sức khỏe liên quan đến môi trường, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá sự tích lũy kim loại nặng as cd pb trong đất trồng rau huyện hoài đức hà nội và đề xuất giải pháp giảm thiểu sẽ là tài liệu bổ ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của ô nhiễm kim loại nặng đến sức khỏe con người. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về các nguy cơ sức khỏe từ thực phẩm hàng ngày. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe và môi trường!