Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về Y học cổ truyền Theo định nghĩa của WHO: “YHCT hay còn được gọi là Y học dân tộc (Traditional medicine) là toàn bộ những kiến thức, kỹ năng, thực hành dựa trên những nền tảng lý luận, lòng tin và kinh nghiệm của mỗi khu vực, mỗi nền văn hóa khác nhau. Được sử dụng để duy trì sức khỏe, cũng như phòng và chữa bệnh, cải thiện, điều trị những rối loạn thể chất, tinh thần” [40]. WHO đã nhận định về lợi ích của YHCT: “Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn, rẻ tiền hơn để sử dụng nhiều hơn”.
Y học cổ truyền ở một số nước trên thế giới Trong tuyên ngôn Alma - Ata “Sức khỏe cho mọi người” năm 1978, WHO đã kêu gọi các quốc gia chấp nhận YHCT vào trong hệ thống CSSK và công nhận vị trí của thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Kết quả là hơn 30 năm qua việc sử dụng YHCT trong CSSK ban đầu tại tuyến y tế cơ sở đã tăng lên một cách đáng kể ở những nước đang phát triển cũng như việc sử dụng những thuốc bổ trợ và thay thế ở những nước phát triển trên thế giới. Bởi những lý do đó, ngay trong những năm đầu của thế kỷ 21, WHO đã vạch ra chiến lược về YHCT trong giai đoạn 2002 - 2005 để kết hợp YHCT vào trong hệ thống hệ thống y tế quốc gia [48]. Trong 3 năm nghiên cứu, WHO đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kết hợp YHCT với YHHĐ trong CSSK cộng đồng [47].
Đây chính là những điểm tích cực từ phía những nhà quản lý, người cung cấp dịch vụ, còn đối tượng sử dụng là người dân đã dùng YHCT như là một phương pháp hiệu quả trong CSSK. YHCT đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tại châu Phi có tới 80% dân số sử dụng YHCT trong CSSK. Tại châu Á và Mỹ - La tinh số lượng người sử dụng YHCT ngày một tăng [40].
Tại Ethiopia tỷ lệ dân số sử dụng 5 YHCT trong CSSK ban đầu lên tới 90%, con số này tại rwanda là 70%, uganda là 60% [39]. Tại Nam Phi có tới 30 triệu người được điều trị bằng YHCT và có khoảng 200 000 thầy thuốc YHCT trong hệ thống y tế. Tỷ lệ nguời sử dụng các biện pháp chữa bệnh bằng YHCT tại Ghana là hơn 60%. Đối với khu vực Mỹ - La tinh, theo báo cáo của WHO 71% dân số Chile sử dụng YHCT và 40% dân số Colombia đã sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh [47].
Theo báo cáo của Bộ Y tế Philippines có khoảng 250 000 thầy thuốc YHCT đang hoạt động tại nước này, họ đặc biệt có hiệu quả trong việc hướng dẫn người dân tại cộng đồng trong CSSK ban đầu [46]. Tại Singapore, có khoảng 12% bệnh nhân ngọai trú sử dụng YHCT. Một khảo sát của Bộ Y tế năm 1994 cho thấy 45% người dân Singapore sử dụng YHCT và 19% người dân Singapore đã sử dụng YHCT trong năm trước đó. Tại Bangladesh 70 - 75% dân số sử dụng YHCT, tiếp cận với YHCT trước tiên khi họ gặp vấn đề sức khỏe [46].
Tại Lào, trong nghiên cứu của K.Sydra và cộng sự điều tra 600 hộ gia đình về sử dụng YHCT. Tỷ lệ người sử dụng YHCT là 77%, có rất ít khác biệt giữa thành thị và nông thôn, và không có sự khác biệt trong sử dụng YHCT giữa người dân sống ở vùng núi cao và đồng bằng. Các bệnh chủ yếu khi sử dụng YHCT là những chứng bệnh thông thường như cảm mạo, sốt, tiêu chảy, sốt rét và rối loạn tiêu hóa. Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng YHCT tại tuyến y tế cơ sở lại rất thấp.
Bộ Y tế Lào đã khuyến khích nhân dân sử dụng YHCT trong CSSK, trồng cây thuốc trong vườn nhà [45]. Thái Lan là một quốc gia có nền YHCT lâu đời, tuy nhiên trước sự phát triển mạnh mẽ của YHHĐ, YHCT Thái Lan bị lãng quên trong suốt một thời gian dài. Nhưng trước những giá trị và hiệu quả không thể phủ nhận của YHCT, Chính phủ Thái Lan cũng có những biện pháp để khuyến khích người dân sử dụng YHCT, tuyên truyền và giáo dục về vai trò của YHCT trong CSSK ban đầu [42]. Sử dụng YHCT còn cắt giảm bớt chí phí quốc gia về y tế.
Trong nghiên cứu của Doris Muta về hiệu quả kinh tế của việc sử dụng YHCT trong khám chữa bệnh (KCB) năm 2001, tại Kenya, chính phủ đã tiết kiệm được 80. Tác 6 giả cũng nêu ra rằng các thầy thuốc YHCT giải quyết được 68,7% gánh nặng bệnh tật, so với 31,3% từ phía Chính phủ [44]. Một trong các quốc gia tiêu biểu có nền YHCT phát triển cao phải kể tới là Trung Quốc. Theo báo cáo của WHO, hệ thống CSSK bằng YHCT của Trung Quốc lên đến 525 000 bác sĩ chuyên khoa YHCT với 2654 bệnh viện YHCT, 170 trường đại học và các viện nghiên cứu về YHCT.
Số lượng người dân sử dụng YHCT tại Trung Quốc là 90%, lượng bệnh nhân hàng năm điều trị ngoại trú là 200 triệu, bệnh nhân nội trú là 3 triệu lượt người một năm. YHCT Trung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận và giành được vị trí hợp pháp ở nhiều quốc gia trên thế giới như Singapore, Malaysia và Indonesia. Tại Hồng Công, Trung Quốc, 60% dân số đã khám chữa bệnh bằng YHCT, trong năm 2000, 22% tổng số lượt khám bệnh là bằng YHCT [47], [46]. Nhật Bản cũng là một quốc gia có nền YHCT lâu đời và phát triển với lịch sử trên 1400 năm.
Một khảo sát được tiến hành tại Tokyo năm 1990 cho thấy 91% số người tham gia đánh giá cao hiệu quả của YHCT đối với các bệnh mạn tính, 49% đã sử dụng thuốc thảo dược và 30% đã sử dụng châm cứu trong CSSK [43],[47],[46]. Y học cổ truyền ở Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, YHCT Việt Nam đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm phòng bệnh và chữa bệnh có hiệu quả, từ ðõn giản ðến phức tạp, từng býớc nâng dần lên thành lý luận, kết hợp với tiến bộ của nhân loại, nhất là triết học, y lý của của phương Đông để hình thành một bản sắc YHCT Việt Nam. Nhiều danh y lớn về YHCT đã xuất hiện như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đại Năng, Hoàng Đôn Hòa.YHCT Việt Nam không chỉ là một nền y học kinh nghiệm đơn thuần mà còn phát triển về mặt lý luận. Các tác phẩm YHCT Việt Nam không những có giá trị to lớn trong y học mà còn là những tác phẩm có giá trị trong văn hóa dân tộc [37].
Ông tổ của thuốc Nam là Đại danh y, thiền sư Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV), đã được nhân dân ta suy tôn là vị “Thánh thuốc Nam”. Vào thời kỳ mà đa số các nước Đông Nam Á đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Y Dược học Trung Quốc thì Tuệ 7 Tĩnh đưa ra quan điểm “Nam dược trị Nam nhân”.Tuệ Tĩnh đã soạn sách bằng thơ phú để truyền bá YHCT với tác phẩm nổi tiếng là “Nam dược thần hiệu”, trong đó có 499 vị thuốc Nam, 3.873 phương thuốc dân tộc điều trị 184 loại bệnh trong 10 khoa lâm sàng nhằm phổ biến kinh nghiệm sử dụng thuốc Nam trong việc phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Ngoài ra Ông còn có tác phẩm nổi tiếng khác là "Hồng nghĩa Giác tư Y thư" hai quyển Thượng và Hạ, bao gồm lý luận YHCT và quá trình biện chứng luận trị của YHCT, Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho nền YHCT một cách toàn diện bao gồm Lý, Pháp, Phương, Dược [11]. Dưới triều nhà Lê có Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (1720 - 1791), là đại danh y của nước ta, nổi tiếng về việc chữa bệnh tài giỏi và tấm lòng tận tụy với người bệnh.
Ông còn soạn ra bộ sách nổi tiếng “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” với 28 tập gồm 66 quyển, được coi như là bách khoa toàn thư của YHCT Việt Nam [5]. Cách mạng Tháng Tám thàng công, dưới chế độ mới, Đảng và Chính phủ ta luôn quan tâm đến phát triển YHCT. Năm 1946, Bộ Nội vụ đã ban hành Nghị định số 337/NĐ/NV ngày 22/8/1946 cho phép thành lập hội nghiên cứu Nam dược sau được đổi tên là Hội Đông Y cứu quốc, tiếp đó là Ban Nghiên cứu Đông Y Nam bộ được thành lập để phục vụ nhân dân và bộ đội. Ban Nghiên cứu Đông Y ngoài việc xây dựng mạng lưới YHCT đã xây dựng và biên soạn “Toa căn bản” trị bệnh thông thường và tập “Tủ thuốc nhân dân” được soạn để phổ biến và sử dụng thuốc YHCT [37].
Thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển YHCT trong công tác CSSK nhân dân, Ngành Y tế Việt Nam đã có những việc làm thiết thực và hiệu quả. Một loạt các chính sách, quy định, nghị định, văn bản hướng dẫn đã được ban hành để đẩy mạnh phát triển YHCT trong CSSK như: - Chỉ thị 03-BYT/TT ngày 01/03/1996 về việc khôi phục vườn thuốc Nam, tăng cường sử dụng xoa bóp, day, bấm huyệt, châm cứu, thuốc YHCT trong CSSK ban đầu. - Năm 1996 BYT đã ban hành “Quy chế nghiên cứu đánh giá tính an toàn và hiệu lực của thuốc cổ truyền”. 8 - Chỉ thị số 25/1999/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh công tác YDHCT.
- Tháng 10 năm 1999 Bộ Y tế có văn bản số 97/YT-YH về việc “Phối kết hợp với chi Hội Đông Y xã triển khai khám chữa bệnh bằng YHCT tại các TYT xã, phường”. - Văn bản số 5123/YT-YH ngày 03/07/2001 về việc ban hành bảng “Tiêu chuẩn xã tiên tiến về YDHCT”. - Quyết định số 370/2002/QĐ/BYT ngày 07/02/2002 của Bộ Y tế về việc ban hành “Chuẩn quốc gia Y tế xã giai đoạn 2001-2010” trong đó có chuẩn IV là chuẩn về YHCT. - Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg, của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chính sách Quốc gia về Y dược học cổ truyền đến năm 2010.
- Chiến lược phát triển Y dược học cổ truyền giai đoạn đến 2010. - Ngày 2 tháng 2 năm 2005, BYT đã công bố quyết định số 30/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập Học viện Y dược học cổ truyền Việt nam. - Ngày 3 tháng 1 năm 2006 thành lập Bệnh viện Tuệ Tĩnh và tháng 6 năm 2006, Viện Nghiên cứu Y Dược học cổ truyền cũng được thành lập.