mở đầu cho quá trình tạo hứng thú, gây chú ý cao độ của HS vào bài học. [43] Kết quả các nghiên cứu trên đã thống nhất quan điểm ở các khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng PPDH, chỉ ra một số biện pháp thay đổi PPDH của giảng viên: sử dụng công nghệ thông tin, áp dụng các kĩ thuật dạy học (kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy…) để kích thích khả năng sáng tạo và tìm tòi câu trả lời của sinh viên trong các giờ dạy, kết hợp giữa nhiều phương pháp nhịp nhàng sẽ mang lại hiệu quả cho giờ dạy cao hơn. Nhấn mạnh tầm quan trọng của các PPDH phát huy tính tích cực của học sinh trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Những năm gần đây, PPDH của giáo viên trong các trường Đại học, Cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp được quan tâm, chú trọng đổi mới nhằm đáp ứng những đòi hỏi tích cực từ phía người học, đồng nghĩa với nhiệm vụ đào tạo và vai trò trong giáo dục của người giảng viên trước nhu cầu xã hội ngày càng trở nên quan trọng.
Tác giả Nguyễn Đức Trí phân tích một số định hướng chủ yếu và cần thiết trong việc đổi mới đào tạo cao đẳng nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Tác giả đề cập đến vai trò của giảng viên trong nâng cao chất lượng dạy và học, tác giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến PPDH như lương tâm và trách nhiệm, ý thức và tư duy đổi mới, thái độ tích cực đối với việc đổi mới, mong muốn và quyết tâm đổi mới, năng lực, kinh nghiệm, thói quen đổi mới, yêu thích đổi mới 18 sáng tạo… từ đó phải đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy trong trường học [36]. Ngoài ra còn nhiều công trình khác cũng đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu những biện pháp đổi mới PPDH, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học hiện nay. Có thể nói PPDH là một vấn đề lý luận quan trọng trong nghiên cứu lý luận cũng như trong thực tiễn.
Những nghiên cứu nói trên đã đưa ra những đóng góp có ý nghĩa khoa học có liên quan đến đề tài ở khía cạnh đổi mới PPDH. Việc đổi mới PPDH trong trường Cao đẳng sư phạm Điện Biên không chỉ có ý nghĩa thay đổi chất lượng đào tạo GV của trường mà còn có ý nghĩa lớn trong việc hình thành năng lực dạy học của sinh viên theo yêu cầu mới. Nghiên cứu về phƣơng pháp học. Phương pháp học là một trong những yếu tố cơ bản và đóng vai trò quan trọng trong tiến trình dạy học.
Nó có mối liên hệ chặt chẽ cũng như chịu ảnh hưởng nhiều từ phương pháp giảng dạy của GV. Phương pháp học tập rất đa dạng bởi bản thân phương pháp học bao gồm nhiều kỹ năng khác nhau. Trong mỗi cấp học hoặc mỗi môn học có những phương pháp học tập khác nhau. Ở nước ngoài, có nhiều nhà nghiên cứu tập trung về phương pháp học tập ở bậc đại học như Metzger (2004) với công trình nghiên cứu “Chiến lược học đại học”, Pauk với “Phương pháp học đại học”, Ronald Gross (2004) với “Học tập đỉnh cao”, Joe Landsberger (2008) với “Học tập cũng cần chiến lược”, … Nhóm tác giả của Viện Quốc tế về Kế hoạch giáo dục – UNESCO đã tổng quan các tài liệu nghiên cứu trước đó về nâng cao chất lượng dạy và học trong quá trình giáo dục và đào tạo trong tác phẩm “Đào tạo giáo viên: Giảng dạy và phương pháp học tập” (2006 ) [44].
Tại chương 18, các tác giả trình bày những khái niệm cơ bản về vai trò của giảng viên, sinh viên trong quá trình giáo dục và đào tạo, những mối liên hệ giữa phương pháp và chất lượng học tập; phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp học của học sinh, trong đó phân tích vai trò của giảng viên đối với việc hình thành hoạt động học tập của người học… 19 Ở nước ta, công trình nghiên cứu về phương pháp học tập ở các bậc học còn khá ít, các nghiên cứu tập trung vào các phương hướng, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện kỹ năng, kích thích tính tích cực của người học. Đầu tiên có thể kể đến hai tác giả Nguyễn Quang Uẩn - Trần Quốc Thành khi nghiên cứu về phương pháp học. Theo các tác giả, cách học chủ yếu ở đại học là tự học, tự tìm tài liệu thông qua định hướng, hướng dẫn của giảng viên. Qua đó để có phương pháp học tốt, sinh viên cần có kỹ năng học tập.
Các kỹ năng cơ bản cần thiết đối với mỗi sinh viên bao gồm: Kỹ năng lập kế hoạch học tập, kỹ năng tìm kiếm và sử dụng tài liệu, kỹ năng nghe và ghi bài trên lớp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng ôn tập [39]. Vấn đề tự học cũng được các tác giả khác quan tâm, nội dung các nghiên cứu phương pháp học tập tập trung phân tích nội hàm của khái niệm tự học. Tác giả Nguyễn Kỳ bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”[34] Nội dung các nghiên cứu khác tập trung phân tích các khía cạnh của phương pháp học tập của sinh viên đại học, trong đó nêu ra các yếu tố tác động đến phương pháp học của họ như: những thay đổi trong môi trường học tập ở bậc cao đẳng và đại học, chương trình học, thời gian học, PPDH của GV, cơ sở vật chất….
Có thể kể đến nhóm tác giả Tạ Thị Hồng Hạnh, Hoàng Đình Thảo Vy, Vũ Việt Hằng, các tác giả Nguyễn Văn Đản, Lê Đức Ngọc, Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Thanh Long… Theo nhóm tác giả Tạ Thị Hồng Hạnh, sinh viên cần nhận ra những thay đổi về môi trường học tập và tìm cách thích nghi với những thay đổi đó, đồng thời hướng dẫn cho sinh viên cách thiết lập các mục tiêu và lập kế hoạch thực hiện các mục tiêu đó, hoàn thiện các kĩ năng học tập khác như: kĩ năng lắng nghe, ghi chép, thuyết trình, làm việc nhóm…[5]. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Văn Đản cho rằng một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình 20 thành phẩm chất đó cho người học. Việc tìm ra những cách thức dạy tự học cụ thể cho từng lĩnh vực là công việc rất có ý nghĩa [4].
Tác giả cũng chỉ ra phương pháp học của sinh viên ảnh hưởng nhiều từ phương pháp dạy của giảng viên và quan trọng hơn tác giả làm rõ thêm giáo viên phải dạy phương pháp học cho học sinh. Để có thể học tốt, người học cần có được hứng thú từ chính việc học, xác định động cơ học tập tốt, phát huy khả năng sáng tạo…. Khái niệm phương pháp học tập cũng có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố nhân cách, sinh lý của mỗi người học. Yếu tố này ở mỗi người lại có sự khác nhau dẫn đến việc xác định cách thức nhận thức, tương tác và phản ứng với môi trường học tập là khác nhau, hay nói cách khác sẽ có nhiều phương pháp học tập khác nhau để phù hợp với từng người học.
Các nghiên cứu khác cũng hướng đến việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến phương pháp học và tìm ra những hình thức hoạt động học tập tích cực ở người học như tác giả Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Quý Thanh, Trần Lan Anh, Trần Linh Phong… Trong các nghiên cứu của mình, tác giả đã tổng quan các nghiên cứu trước đó về phương pháp học tập và tính tích cực học tập của sinh viên. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình học tập của sinh viên. Mỗi sinh viên do môi trường văn hoá xã hội khác nhau nên hình thành những thói quen, cách suy nghĩ, các năng lực nhận thức khác nhau, từ đó có phong cách học tập khác nhau…[14]. Bên cạnh đó tác giả Nguyễn Quý Thanh đưa ra các kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên như vị trí ngồi học, ngành học, tâm trạng hào hứng, tính cách mạnh dạn, phương pháp giảng dạy của giảng viên…[28, 29].
Theo đó, trong luận văn thạc sĩ “Những yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên đại học” tác giả Trần Lan Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về tính tích cực học tập của sinh viên, tác giả nghiên cứu sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của sinh viên đại học theo hai nhóm: Nhóm yếu tố liên quan đến cá nhân, nhóm yếu tố liên quan đến môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực học tập [1]. Ngoài ra, với các nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị về động cơ trong hoạt động học tập cho thấy, động cơ học tập xuất phát từ việc thoả mãn nhu cầu của học sinh để kiểm soát 21 các quyết định của mình (nhu cầu tự chủ); nhu cầu cảm nhận tích cực về bản thân (lòng tự trọng); và nhu cầu có cảm nhận dễ chịu về cách thức thực hiện công việc (nhu cầu tham gia và được khuyến khích). Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp tích cực thúc đẩy động cơ học tập cho học sinh. Ngoài ra, một số phương pháp học tập mới ở bậc đại học từ nước ngoài được phổ biến khá rộng rãi trên internet cho SV nước ta như: Phương pháp học tập POWER, phương pháp học tập SQ3R, phương pháp học tập dựa trên vấn đề PBL.
Tóm lại, những nghiên cứu trên về phương pháp học tập cho ta những căn cứ lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của sinh viên, về các yếu tố giữa tích cực của người học. Đây là những tài liệu quan trọng liên quan đến đề tài, những kết quả nghiên cứu không chỉ cho biết các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập trong hoạt động học tập của sinh viên mà còn rất hữu ích khi nghiên cứu về các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng nhu cầu của xã hội.