MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch Biển là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên biển, đảo. Du lịch biển thường mang tính mùa vụ (chủ yếu vào mùa hè), du khách thường tới biển để nghỉ dưỡng, tắm biển và tham gia các trò chơi mạo hiểm như lướt sóng, đua thuyền. Hiện nay, du lịch biển là lĩnh vực thu hút 80% lượng khách và 70% doanh thu của toàn ngành Du lịch Nghệ An.
Nghệ An với lợi thế là tỉnh có đường bờ biển dài 82km, hiện nay loại hình du lịch biển được phát triển mạnh tại hầu khắp các bãi biển trải dài từ Cửa Lò đến Quỳnh Lưu như Bãi biển Cửa Lò, Bãi Lữ - Cửa Hiền, Bãi biển Diễn Thành (Diễn Châu), bãi biển Quỳnh Phương (Quỳnh Lưu) và một số đảo (Lan Châu, đảo Ngư, đảo Mắt,. Tuy nhiên bên cạnh sự phát triển du lịch biển thì vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là vẫn đề ô nhiễm môi trường biển.Hàng ngày, một lượng không nhỏ nước thải, chất thải sinh hoạt và công nghiệp được xả xuống các con sông đổ ra biển. Sự phát triển nhanh về cơ sở lưu trú, nhà hàng và các cơ sở dịch vụ du lịch khác cộng với lượng khách du lịch bãi biển ngày càng đông đã đẩy môi trường du lịch biển trước nguy cơ ô nhiễm, ngoài ra còn ảnh hưởng đến môi trường địa chất do sự phát triển của các cơ sơ hạ tầng. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận nhân dân và khách du lịch chưa cao.Ô nhiễm nước biển tất yếu dẫn tới sự suy thoái của các hệ sinh thái biển.
Sự suy giảm về số lượng các loài sinh vật biển và năng suất nuôi trồng thủy hải sản làm giảm sút về sản lượng và chất lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản của ngư dân vùng biển, đe dọa trực tiếp cuộc sống của ngư dân nơi đây. 2 Từ nhiều năm nay Cửa Lò được khách du lịch đánh giá là một khu du lịch biển đẹp, có bãi cát mịn, nước biển trong xanh và có độ mặn vừa phải, phù hợp với du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Cửa Lò được xác định là trung tâm kinh tế du lịch trọng điểm của tỉnh Nghệ An, du lịch hiện nay đang là ngành kinh tế mũi nhọn của thị xã. Mỗi năm Cửa Lò đón và phục vụ khoảng 1 triệu khách đến tắm biển, nghỉ dưỡng.
Doanh thu dịch vụ du lịch hàng năm đạt xấp xỉ 1000 tỷ đồng. Tuy nhiên bên cạnh đó các vấn đề môi trường ở Cửa Lò cũng đang trở nên đáng báo động. Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ du lịch cũng phát triển nhanh, nhưng quy mô không lớn, chất lượng chưa cao. Các điều kiện xử lý môi trường chưa đúng quy trình.
Hệ thống cấp, thoát nước chưa được xây dựng hoàn chỉnh, nhất là đối với hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt. Một số phường như Nghi Thu, Nghi Thuỷ chưa có đường ống cấp nước sạch cũng như mương thoát nước. Trong những năm gần đây việc bê tông hoá tại khu du lịch Cửa Lò đang có xu hướng gia tăng. Diện tích khuôn viên cây xanh, thảm thực vật đang bị thu hẹp dần.
Ngoài ra Cửa Lò còn chịu tác động không nhỏ của thiên tai gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động phát triển kinh tế. Xuất phát từ những vấn để thực tiễn trên, trên, được sự phân công của ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS.Nguyễn Chí Hiểu, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động phát triển du lịch biển đến môi trường thị xã Cửa Lò – tỉnh Nghệ An”.1 Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động du lịch biển tới môi trường thị xã cửa lò nhằm đưa ra các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường 1.2 Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được hiện trạng môi trường khu du lịch Cửa Lò 3 - Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường - Đề xuất được các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của du lịch biển đến môi trường 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác BVMT, mục tiêu hướng tới sự PTBV của đất nước.
- Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế - Tích lũy được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm - Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được thực trạng môi trường biển Cửa Lò từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận về du lịch biển 2.
Khái niệm Du lịch biển là một dạng hoạt động của dân cư vào những thời điểm có điều kiện thời tiết thuận lợi, ở các vùng biển, nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi sức khỏe. Du lịch biển cũng bao gồm hoạt động du lịch trên bãi biển hoặc tại các đảo ngoài biển, do đó còn có thể gọi là du lịch biển - đảo. Lịch sử phát triển Du lịch biển là loại hình du lịch ra đời sớm và là một trong hai trào lưu du lịch nổi bật ở thế kỷ XVIII, dẫn đến sự phát triển ồ ạt giai đoạn sau đó. Ngay trong thời kỳ cổ đại, đã có những ghi chép liên quan đến hoạt động du lịch các bãi biển miền Tây nước Ý của cư dân Roma, mà tiêu biểu là vịnh Naples[2].
Nhưng du lịch biển phát triển mạnh mẽ nhất sau thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, đặc biệt trong thế kỷ XIX. Một số nhà nghiên cứu cho rằng du lịch biển thu hút khách du lịch trước hết vì mục đích phục hồi sức khỏe và những bãi biển đẹp là địa điểm nghỉ dưỡng hấp dẫn không chỉ với tầng lớp trung lưu và dân thường mà cả giới thượng lưu [4]. Với sự phát triển của cách mạng Công nghiệp, những rào cản đối với du lịch giảm bớt, người dân có điều kiện tham gia các chuyến đi nhiều hơn thì du lịch biển trở thành một lựa chọn lý tưởng cho nhu cầu giải trí, thư giãn, với những nghiên cứu về du lịch 4S trong địa lý du lịch. Du lịch ồ ạt phát triển mà điểm đến đầu tiên là du lịch ở các bãi biển.
Vì vậy, một số người đánh đồng du lịch biển với những chuyến nghỉ hè dài ngày “Du lịch biển là một dạng hoạt động của du lịch dài ngày thường được tổ chức vào mùa hè”[5]. Ngày nay, hoạt động du lịch biển đã và đang được đa dạng hóa, 5 phù hợp với nhiều nhu cầu khác nhau của khách du lịch. Từ du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, nghiên cứu, tiềm hiểu tài nguyên biển cho đến những loại hình thể thao biển như kayking, canoing, scuba driving… 2. Đặc điểm Do tài nguyên du lịch biển phụ thuộc rất lớn vào yếu tố tự nhiên đặc biệt là yếu tố khí hậu nên nhìn chung du lịch biển có tính mùa vụ rõ nét hơn hẳn so với các loại hình du lịch khác.
Du lịch biển thường diễn ra mạnh mẽ nhất vào những tháng hè vì vậy du lịch biển đặc trưng bởi tính thời vụ rõ nét (tập trung vào một khoảng thời gian nhất định và lặp đi lặp lại hàng năm), cường độ lớn. Nhìn chung, du lịch biển thường tồn tại với nhiều hình thức kết hợp. Mặt khác, phần lớn dân cư và thành phố của thế giới đều nằm ở khu vực ven biển, tốc độ phát triển kinh tế ở các vùng này nói chung đều mạnh hơn so với các nơi khác[7]. Trên thực tế, tất cả các dự án phát triển kinh tế, kể cả các dự án phát triển du lịch tại vùng ven biển đều tác động sâu sắc đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Do đó cần quy hoạch kỹ lưỡng để hạn chế hoặc loại trừ những tác động tiêu cực. Xu thế, triển vọng Cho đến nay, du lịch biển vẫn là một trong những điểm du lịch thu hút lượng khách đông nhất trên quy mô toàn thế giới (trên 70%) và cũng là một trong những loại hình đem lại tỷ lệ doanh thu cao nhất trong toàn ngành. Du lịch biển là thế mạnh phát triển của nhiều quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam. Theo Boris Fabres, cố vấn cao cấp của Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng, Hiệp hội Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam thì có 80% du khách chọn biển làm nơi nghỉ ngơi, hơn 70% điểm đến trong nước là biển, kế hoạch của Việt Nam là tới năm 2020 khu vực biển 6 sẽ đóng góp 50% GDP quốc gia[4].
Từ đó có thể thấy được rằng lợi ích của du lịch biển là rất lớn. Việc nâng cao hiệu quả khai thác các sản phẩm du lịch biển đã tận dụng được tiềm năng tài nguyên biển phục vụ đời sống cộng đồng địa phương. Du lịch biển mang lại giá trị kinh tế lớn với việc thu hút lượng khách du lịch quốc tế đáng kể, đem lại nguồn thu cho ngành du lịch các tỉnh ven biển. Phát triển du lịch biển còn đồng nghĩa với việc tạo được nhiều cơ hội việc làm, thu nhập ổn định và nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư ven biển.
Đối với các doanh nghiệp, đó còn là cơ hội kinh doanh du lịch thu lợi nhuận, bên cạnh đó là việc đẩy mạnh thu hút đầu tư từ các tập đoàn lớn cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, phục vụ cho hoạt động du lịch tiến xa hơn nữa. Không chỉ có vậy, một phần nguồn thu từ du lịch biển có thể được đầu tư để nâng cấp cho các sản phẩm du lịch, góp phần vào việc tôn tạo những giá trị văn hóa, các làng nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ và các hoạt động nghệ thuật khác tại các dải không gian ven biển. Hơn thế nữa, giá trị kinh tế do du lịch biển mang lại sẽ góp phần khuyến khích dân cư địa phương giữ gìn, sáng tạo những hoạt động văn hóa và sản phẩm du lịch mang bản sắc riêng cho địa phương mình nhằm đem lại lợi ích cho tỉnh mình cũng như cho ngành kinh doanh dịch vụ của cả nước. Môi trường 2.
Khái niệm môi trường Theo nghĩa rộng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài, có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện nào đó. Khái niệm chung đó được cụ thể hóa đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu.