Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Huyền Thảo thuộc chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, tập trung vào đề tài: "Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi)" dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Linh Ngọc.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Theo lập luận của tác giả, chính sách công là phương thức tác động của Nhà nước vào các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm thực hiện các định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Khi được thể chế hóa thành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp tại Việt Nam vẫn ghi nhận tình trạng một số văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng hoàn thiện chưa cao, thiếu tính khả thi hoặc xuất hiện xung đột, chồng chéo với hệ thống pháp luật hiện hành. Hoạt động đánh giá tác động chính sách (Regulatory Impact Assessment - RIA) trước khi ban hành văn bản đóng vai trò then chốt nhằm nâng cao chất lượng và tính khả thi của pháp luật.
Về bối cảnh chuyên ngành, Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014) sau gần 10 năm thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng quản lý nguồn lực tài nguyên, thúc đẩy thị trường bất động sản và hạ tầng kinh tế. Dẫu vậy, đạo luật này đã bộc lộ nhiều điểm nghẽn: các quy định thiếu tính đồng bộ, tồn tại kẽ hở dẫn đến hành vi trục lợi, thất thoát tài sản nhà nước và chưa theo kịp sự phát triển kinh tế nhanh chóng. Để thể chế hóa chủ trương tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao", việc tiến hành quy trình đánh giá tác động đối với các chính sách mới trong đề nghị xây dựng dự án Luật Đất đai (sửa đổi) là nhiệm vụ cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định rõ hai mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận, quy trình, phương thức và nội dung của hoạt động đánh giá tác động của chính sách trong quy trình lập pháp.
- Ứng dụng quy trình đánh giá tác động để phân tích, so sánh các phương án và đề xuất lựa chọn tối ưu đối với hai chính sách trọng tâm trong Đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi), bao gồm:
- Chính sách 2: "Nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảo vệ, cải tạo, nâng cao chất lượng đất đai".
- Chính sách 5: "Hoàn thiện chính sách giao đất, cho thuê đất".
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đánh giá tác động của chính sách (RIA) trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào 02 chính sách (Chính sách 2 và Chính sách 5) trong tổng số 11 chính sách thuộc Báo cáo số 16/BC-BTNMT ngày 28/02/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá tác động chính sách của dự án Luật Đất đai (sửa đổi).
- Phạm vi không gian: Thực tiễn quản lý, quy hoạch và phân bổ đất đai trên phạm vi cả nước; trích dẫn một số trường hợp cụ thể tại địa phương (tiêu biểu như thành phố Hà Nội với Dự án Khu đô thị mới Hanoi Garden City và tuyến đường Lê Văn Lương - Tố Hữu).
- Phạm vi thời gian: Số liệu tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013 giai đoạn 2013–2021/2022 và định hướng xây dựng chính sách đất đai đến năm 2030, tầm nhìn 2050 theo Nghị quyết số 39/2021/QH15 và Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và văn bản pháp luật áp dụng
Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các quan niệm khoa học pháp lý và chính sách công trong và ngoài nước:
- Khái niệm chính sách và chính sách công: Tác giả đối chiếu các góc nhìn lý thuyết của James E. Anderson, Thomas R. Dye ("Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm"), William N. Dunn, Peter Aucoin, cùng các học giả Việt Nam như GS.TS. Vũ Cao Đàm, Đỗ Phú Hải và Giáo trình Chính sách Kinh tế - Xã hội của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
- Khung lý thuyết Đánh giá tác động chính sách (RIA): Tiếp cận định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nghiên cứu của ThS. Lê Tuấn Phong và tác giả Nguyễn Lê về việc phân tích chi phí - lợi ích, đánh giá tác động trước ban hành (tiền nghiệm) và sau ban hành (hồi cứu).
- Hệ thống văn bản pháp lý làm nền tảng:
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), trực tiếp tại Điều 35 quy định trách nhiệm và nội dung đánh giá tác động chính sách.
- Luật Bình đẳng giới năm 2006 (khoản 7 Điều 5 về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới).
- Luật Đất đai năm 2013 (các điều khoản về điều tra thoái hóa đất, quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia/tỉnh/huyện, căn cứ giao và cho thuê đất).
- Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Điều 6 quy định 5 nhóm tác động: kinh tế, xã hội, giới, thủ tục hành chính, hệ thống pháp luật).
- Thông tư số 03/2022/TT-BTP của Bộ Tư pháp quy định về đánh giá tác động của thủ tục hành chính (4 tiêu chí: cần thiết, hợp pháp, hợp lý, chi phí tuân thủ).
- Thông tư số 42/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính (sửa đổi Thông tư số 338/2016/TT-BTC) quy định định mức kinh phí cho công tác soạn thảo, thẩm định báo cáo đánh giá tác động chính sách.
- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Trung ương; Nghị quyết số 39/2021/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu học thuật chuyên ngành luật:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Mổ xẻ các quy định pháp luật hiện hành và các tài liệu dự thảo để làm rõ bất cập, từ đó tổng hợp thành các tiêu chí đánh giá.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh cơ chế hiện hành của Luật Đất đai năm 2013 với các giải pháp mới được đề xuất; đối chiếu phương án can thiệp trực tiếp bằng pháp luật với phương án can thiệp gián tiếp phi pháp lý hoặc giữ nguyên hiện trạng.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu thứ cấp chính thức từ các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp) nhằm chứng minh tính cấp bách của các vấn đề quy hoạch treo, ô nhiễm thoái hóa đất, hiệu quả nguồn thu ngân sách từ giao đất và đấu giá quyền sử dụng đất.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các kết luận pháp lý về mức độ tối ưu của từng phương án chính sách dựa trên 5 chiều kích tác động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nguồn dữ liệu
Toàn bộ dữ liệu thực chứng được trích dẫn trực tiếp từ các văn bản chính thống:
- Báo cáo số 16/BC-BTNMT ngày 28/02/2022 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá tác động chính sách dự án Luật Đất đai (sửa đổi).
- Số liệu Báo cáo điều tra, đánh giá thoái hóa đất tại 6 vùng kinh tế - xã hội của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Số liệu thống kê công tác đấu giá tài sản giai đoạn 2018–2021 của Bộ Tư pháp.
- Báo cáo số liệu thu ngân sách nhà nước từ đất đai giai đoạn 2013–2020 của Bộ Tài chính.
- Báo cáo kiểm tra các dự án đô thị chậm tiến độ của Sở Xây dựng thành phố Hà Nội.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH
Chương 1 đóng vai trò xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về quy trình lập pháp và kỹ thuật đánh giá tác động chính sách (RIA) tại Việt Nam:
- Khái niệm và vai trò của đánh giá tác động chính sách: Khóa luận phân định ranh giới giữa chính sách công và chính sách tư; trích dẫn khoản 2 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP để khẳng định bản chất của ĐGTĐCS là việc phân tích, dự báo tác động đối với các nhóm đối tượng nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu. Tác giả luận giải 3 vai trò căn bản của RIA:
- Bảo đảm chất lượng chính sách, phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng lạm phát chính sách cùng các văn bản quy phạm pháp luật kém chất lượng hoặc thiếu khả thi.
- Bảo đảm tính minh bạch, công khai trong quy trình lập pháp, tạo cơ chế thực hiện quyền dân chủ và củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan nhà nước.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cắt giảm các chi phí tuân thủ bất hợp lý và bảo đảm công bằng xã hội.
- Quy trình 5 bước đánh giá tác động chính sách:
- Xác định vấn đề bất cập: Nhận diện rõ thực trạng, hậu quả đối với các nhóm đối tượng và phân tách nguyên nhân khách quan với nguyên nhân chủ quan.
- Xác định mục tiêu: Thiết lập mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể, gắn liền với định hướng phát triển của Nhà nước.
- Lựa chọn các phương án giải quyết: Xây dựng tối thiểu 3 phương án để so sánh, gồm: (i) Giữ nguyên hiện trạng (làm thước đo đối chứng chuẩn); (ii) Can thiệp gián tiếp phi pháp lý (tuyên truyền, ưu đãi tài chính, cải cách bộ máy); (iii) Can thiệp trực tiếp bằng cách ban hành hoặc sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật.
- Đánh giá tác động lên các phương án: Kết hợp phân tích định lượng (tính toán chi phí - lợi ích, chi phí tuân thủ) và phân tích định tính (điều tra xã hội học, phỏng vấn, dự báo tác động môi trường và xã hội).
- Lấy ý kiến góp ý: Triển khai qua 2 giai đoạn theo khoản 3 Điều 35 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (giai đoạn trong quá trình thực hiện ĐGTĐCS và giai đoạn lấy ý kiến phản biện đối với dự thảo báo cáo).
- Hệ thống 5 nội dung đánh giá theo Điều 6 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 154/2020/NĐ-CP):
- Tác động kinh tế: Phân tích chi phí và lợi ích đối với Nhà nước (thu chi ngân sách, đầu tư tài sản công), tổ chức/doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh), cá nhân (chi phí tuân thủ, thời gian, lệ phí).
- Tác động xã hội: Dự báo thay đổi trên tối thiểu 11 lĩnh vực (dân số, việc làm, giảm nghèo, y tế, giáo dục...) và đo lường sự phân hóa tác động trên 5 nhóm mức thu nhập (nghèo, cận nghèo, trung bình, khá, giàu).
- Tác động về giới: Thực hiện theo khoản 7 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 qua 2 phương thức (đánh giá chuyên biệt hoặc lồng ghép vào kinh tế, xã hội, thủ tục hành chính).
- Tác động về thủ tục hành chính: Thẩm định dựa trên 4 tiêu chí quy định tại Thông tư số 03/2022/TT-BTP (sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý, chi phí tuân thủ).
- Tác động đối với hệ thống pháp luật: Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ, tính hợp hiến, hợp pháp, khả năng thi hành và tính tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ TRONG ĐỀ NGHỊ XÂY DỰNG LUẬT ĐẤT ĐAI
Chương 2 là phần trọng tâm ứng dụng thực tiễn của khóa luận. Tác giả khái quát danh mục 11 chính sách trong Báo cáo số 16/BC-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và chọn phân tích chuyên sâu 02 chính sách có tác động xã hội sâu rộng nhất:
Đánh giá tác động Chính sách 2: Nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bảo vệ, cải tạo, nâng cao chất lượng đất đai
Tác giả chia chính sách này thành 2 nội dung cấu phần:
Nội dung 1: Nâng cao chất lượng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thực trạng và bất cập: Dẫn chứng số liệu thực hiện quy hoạch đất đai đến năm 2020 trên cả nước gồm: Đất nông nghiệp đạt 27.095,90 nghìn ha (81,80% diện tích tự nhiên); Đất phi nông nghiệp đạt 4.528,31 nghìn ha (13,67% diện tích tự nhiên); Đất chưa sử dụng còn 1.499,36 nghìn ha (chiếm 4,53%). Điểm nghẽn là sự thiếu kết nối giữa quy hoạch đất đai với quy hoạch ngành; tồn tại nhiều dự án quy hoạch treo gây lãng phí tài sản nhà nước và triệt tiêu quyền lợi người sử dụng đất. Ví dụ thực tế: Dự án Khu đô thị mới Hanoi Garden City (51,54 ha tại Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội) chậm hoàn thành từ năm 2012 do thiếu đồng bộ hạ tầng kỹ thuật; tình trạng quá tải hạ tầng tại trục đường Lê Văn Lương - Tố Hữu do quy hoạch mật độ cao tầng dày đặc, thiếu cây xanh.
- So sánh các phương án: Tác giả so sánh 3 phương án dựa trên 5 khía cạnh. Về kinh tế, việc sửa đổi luật (Phương án 3) làm phát sinh chi phí lập hồ sơ xây dựng văn bản theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC (như Tờ trình 10 triệu đồng; Báo cáo ĐGTĐCS 20 triệu đồng; Báo cáo bình đẳng giới 5 triệu đồng; Báo cáo rà soát văn bản 9 triệu đồng...). Tuy nhiên, phương án này loại bỏ triệt để các dự án treo, giải phóng nguồn lực đất đai. Tác giả khuyến nghị chọn Phương án 3 (Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng việc sửa đổi quy định pháp luật) vì đây là phương án duy nhất thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 18-NQ/TW, bảo đảm tính pháp lý bắt buộc và tính đồng bộ giữa quy hoạch 3 cấp (quốc gia, tỉnh, huyện).
Nội dung 2: Bảo vệ, cải tạo, nâng cao chất lượng đất đai
- Thực trạng và bất cập: Dẫn số liệu từ Báo cáo số 16/BC-BTNMT xác định cả nước có tới 11.838 nghìn ha đất bị thoái hóa (chiếm 35,74% diện tích tự nhiên). Phân loại mức độ gồm: thoái hóa nhẹ 6.844 nghìn ha (20,66%); thoái hóa trung bình 3.787 nghìn ha (11,43%); thoái hóa nặng 1.207 nghìn ha (3,64%). Nguyên nhân chủ yếu từ việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hóa học trong nông nghiệp và thiên tai, xói mòn.
- Khuyến nghị: So sánh 3 phương án và tiếp tục kiến nghị lựa chọn Phương án 3 (Can thiệp trực tiếp bằng pháp luật) nhằm thiết lập hành lang pháp lý bắt buộc, phân định rõ trách nhiệm tài chính và nghĩa vụ cải tạo đất của người sử dụng đất cũng như cơ quan quản lý.
Đánh giá tác động Chính sách 5: Hoàn thiện chính sách giao đất, cho thuê đất
- Thực trạng và số liệu chứng minh:
- Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tỷ trọng thu ngân sách nhà nước từ đất đai tăng liên tục, từ mức 7,8% (năm 2013) lên 16,85% (năm 2020); trong đó tiền sử dụng đất chiếm 67,26% và tiền thuê đất chiếm 15,23% tổng nguồn thu từ đất.
- Theo dữ liệu của Bộ Tư pháp giai đoạn 2018–2021, số tiền thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất tăng khoảng 67% (tương đương ~200 nghìn tỷ đồng) và luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng giá bán tài sản đấu giá:
- Năm 2018: 17.710 cuộc đấu giá đất thành công / 30.182 cuộc đấu giá tài sản (chiếm hơn 50%); số tiền đấu giá đất đạt hơn 54 nghìn tỷ đồng / 77 nghìn tỷ đồng tổng giá bán tài sản (chiếm 70%).
- Năm 2019: 17.257 cuộc đấu giá đất / 29.715 cuộc (chiếm hơn 60%); đạt hơn 65 nghìn tỷ đồng / 90 nghìn tỷ đồng (chiếm 72%).
- Năm 2020: 14.588 cuộc đấu giá đất / 28.777 cuộc (chiếm hơn 50%); đạt hơn 81 nghìn tỷ đồng / 103 nghìn tỷ đồng (chiếm gần 80%).
- Năm 2021: 9.855 cuộc đấu giá đất / 20.747 cuộc (chiếm 47,5%); đạt 67.118 tỷ đồng / 90.333 tỷ đồng (chiếm 74,3%).
- Bất cập: Hình thức cho thuê đất trả tiền một lần gây áp lực tài chính cho nhà đầu tư; căn cứ giao đất, cho thuê đất chưa bao quát hết thực tiễn; các vụ việc sai phạm bị Thanh tra Chính phủ chỉ ra cho thấy tình trạng lợi dụng kẽ hở pháp luật để chuyển giao tài sản công thành tài sản tư không qua đấu giá, gây thất thoát nghiêm trọng ngân sách nhà nước.
- Mục tiêu và phương án: Mục tiêu cốt lõi là đẩy mạnh giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất; hạn chế tối đa các trường hợp giao/thuê đất chỉ định; quy định hạn mức và chế độ tài chính đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực chứng nổi bật trong văn bản
Khóa luận tổng hợp các chuỗi số liệu chính thức phản ánh trung thực diện mạo thực thi chính sách đất đai:
| Nhóm chỉ tiêu |
Số liệu ghi nhận |
Tỷ lệ / Đánh giá trong văn bản |
| Quy hoạch đất nông nghiệp (2020) |
27.095,90 nghìn ha |
81,80% DT tự nhiên (vượt 0,21% chỉ tiêu QH) |
| Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước |
3.418,14 nghìn ha |
Nằm trong tổng số 3.771,36 nghìn ha đất lúa |
| Đất rừng sản xuất |
7.533,94 nghìn ha |
Chiếm tỷ trọng lớn nhất nhóm đất lâm nghiệp |
| Quy hoạch đất phi nông nghiệp (2020) |
4.528,31 nghìn ha |
13,67% DT tự nhiên (đạt 94,73% chỉ tiêu QH) |
| Quy hoạch đất chưa sử dụng (2020) |
1.499,36 nghìn ha |
4,53% DT tự nhiên (vượt 14,42% chỉ tiêu QH) |
| Tổng diện tích đất thoái hóa cả nước |
11.838 nghìn ha |
35,74% diện tích tự nhiên |
| Đất thoái hóa nhẹ |
6.844 nghìn ha |
20,66% diện tích tự nhiên |
| Đất thoái hóa trung bình |
3.787 nghìn ha |
11,43% diện tích tự nhiên |
| Đất thoái hóa nặng |
1.207 nghìn ha |
3,64% diện tích tự nhiên |
| Thu NSNN từ đất đai (2013 so với 2020) |
Tăng từ 7,8% lên 16,85% |
Tiền sử dụng đất chiếm 67,26%; tiền thuê đất chiếm 15,23% |
| Đấu giá quyền sử dụng đất (2018–2021) |
Tăng trưởng thu ~67% |
Tương đương khoảng 200 nghìn tỷ đồng thu ngân sách |
Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra mức định mức ngân sách phục vụ công tác xây dựng báo cáo ĐGTĐCS theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC: Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đối với dự án luật là 20.000.000 đồng/báo cáo; Tờ trình đề nghị xây dựng luật là 10.000.000 đồng; Báo cáo lồng ghép giới và Báo cáo đánh giá TTHC là 5.000.000 đồng/bản; Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật là 9.000.000 đồng/báo cáo; Báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật do Bộ Tư pháp xây dựng là 18.000.000 đồng/báo cáo.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
Khóa luận đưa ra các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể:
- Nâng cao năng lực đội ngũ công chức: Tăng cường bồi dưỡng, chuẩn hóa kỹ năng phân tích chính sách và kỹ thuật đo lường định lượng chi phí - lợi ích cho đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia lập pháp và đánh giá tác động tại các bộ, ngành.
- Kiến nghị hoàn thiện chính sách giao đất, cho thuê đất: Bổ sung quy định chặt chẽ về các trường hợp bắt buộc phải đấu giá quyền sử dụng đất và đấu thầu dự án có sử dụng đất; hạn chế tối đa các kẽ hở pháp lý tạo điều kiện chuyển đổi tài sản công sang tư nhân thiếu minh bạch; bổ sung quy định rõ ràng về hạn mức sử dụng đất tôn giáo.
- Kiến nghị hoàn thiện Báo cáo ĐGTĐCS trong đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi): Báo cáo cần phản ánh đầy đủ dữ liệu thực chứng đa chiều, dự báo sát sao chi phí tuân thủ của doanh nghiệp và người dân, đồng thời bảo đảm tính thống nhất với Luật Quy hoạch và các điều ước quốc tế liên quan.
Đóng góp so với các nghiên cứu trước
Tác giả đã tự tổng thuật tình hình nghiên cứu (so sánh với các luận văn của Phan Công Hiếu năm 2022 về khám bệnh từ xa, Nguyễn Thị Minh Hường năm 2018 về Luật Chuyển đổi giới tính, Lê Tuấn Độ năm 2018 về hoạt động xây dựng luật, và các bài viết của Nguyễn Chí Thành, Vũ Anh Tâm, Trần Thị Minh Châu). Từ đó, tác giả chỉ ra rằng phần lớn công trình trước đây chỉ bàn về ĐGTĐCS nói chung hoặc chỉ ra các bất cập mang tính khái quát của Luật Đất đai năm 2013. Khóa luận này là công trình chuyên biệt áp dụng trọn vẹn quy trình RIA chuẩn mực (qua 5 bước và 5 nội dung tác động) vào 02 chính sách cốt lõi của Đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi), kết nối trực tiếp với các định hướng lớn của Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế nghiên cứu:
- Khóa luận mới chỉ đi sâu đánh giá 02 trong tổng số 11 chính sách được đề xuất trong Báo cáo số 16/BC-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các chính sách phức tạp khác (như cơ chế tài chính đất đai, bồi thường - hỗ trợ - tái định cư khi thu hồi đất, tích tụ ruộng đất nông nghiệp) chưa được nghiên cứu toàn diện.
- Việc đánh giá tác động định lượng về kinh tế mới chủ yếu dừng ở việc thống kê các chi phí hành chính và ngân sách Nhà nước chi cho công tác lập pháp (theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC), chưa lượng hóa được toàn bộ tổng chi phí xã hội và chi phí tuân thủ dài hạn của doanh nghiệp và công dân trên phạm vi vĩ mô.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục mở rộng phạm vi đánh giá tác động đối với 9 chính sách còn lại trong hồ sơ đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi).
- Triển khai nghiên cứu đánh giá tác động sau ban hành (đánh giá hồi cứu) khi Luật Đất đai mới chính thức được Quốc hội thông qua và áp dụng vào thực tiễn, nhằm đo lường hiệu lực và hiệu quả thực chất của các giải pháp lập pháp.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo phù hợp:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Luật Kinh tế, Luật Đất đai và Quản lý công.
- Cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, xây dựng chính sách, thẩm định văn bản tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương).
- Các nội dung có giá trị sử dụng cao:
- Cấu trúc chuẩn mực của quy trình 5 bước và phương pháp phân tích 5 nhóm tác động theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định số 154/2020/NĐ-CP) và Thông tư số 03/2022/TT-BTP, có thể dùng làm tài liệu mẫu cho các nghiên cứu RIA khác.
- Hệ thống dữ liệu thực chứng xác thực về tình trạng thoái hóa đất (35,74%), cơ cấu sử dụng đất năm 2020 và chuỗi số liệu đấu giá đất giai đoạn 2018–2021 của Bộ Tư pháp phục vụ cho các nghiên cứu về kinh tế đất đai và tài chính công.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn Chính sách 2 và Chính sách 5 trong số 11 chính sách của Đề nghị xây dựng Luật Đất đai (sửa đổi) để phân tích chuyên sâu?
Tác giả lựa chọn hai chính sách này vì đây là những nội dung có tính cấp bách cao nhất, trực tiếp giải quyết các vấn đề nóng trong thực tiễn quản lý đất đai. Chính sách 2 giải quyết tận gốc bất cập về chất lượng quy hoạch, dự án treo và tình trạng suy thoái, ô nhiễm đất đai nghiêm trọng. Chính sách 5 trực tiếp điều chỉnh cơ chế phân bổ tài nguyên, ngăn chặn các kẽ hở pháp lý gây thất thoát tài sản công và trục lợi trong hoạt động giao đất, cho thuê đất.
2. Thực trạng thoái hóa đất tại Việt Nam được văn bản phản ánh qua những con số cụ thể nào?
Theo số liệu điều tra thoái hóa đất tại 6 vùng kinh tế - xã hội được trích dẫn từ Báo cáo số 16/BC-BTNMT, cả nước có 11.838 nghìn ha đất bị thoái hóa, chiếm tới 35,74% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó: thoái hóa nhẹ chiếm 6.844 nghìn ha (20,66% diện tích cả nước); thoái hóa trung bình chiếm 3.787 nghìn ha (11,43%); và thoái hóa nặng chiếm 1.207 nghìn ha (3,64%).
3. Theo số liệu thống kê của Bộ Tư pháp trong văn bản, hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất giai đoạn 2018–2021 mang lại nguồn thu như thế nào?
Số tiền thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất tăng khoảng 67% (tương đương khoảng 200 nghìn tỷ đồng) trong 4 năm. Cụ thể: năm 2018 đạt hơn 54 nghìn tỷ đồng (chiếm 70% tổng giá bán đấu giá tài sản); năm 2019 đạt hơn 65 nghìn tỷ đồng (chiếm 72%); năm 2020 đạt hơn 81 nghìn tỷ đồng (chiếm gần 80%); và năm 2021 đạt 67.118 tỷ đồng (chiếm 74,3% tổng giá bán đấu giá tài sản).
4. Mức kinh phí nhà nước bảo đảm cho công tác lập các báo cáo đánh giá trong quy trình xây dựng dự án luật được quy định như thế nào theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC?
Khóa luận dẫn chiếu khoản 3 Điều 1 Thông tư số 42/2022/TT-BTC với các mức chi cụ thể: Báo cáo đánh giá tác động của chính sách đối với dự án luật là 20.000.000 đồng/báo cáo; Tờ trình đề nghị xây dựng luật là 10.000.000 đồng; Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới là 5.000.000 đồng; Bản đánh giá thủ tục hành chính là 5.000.000 đồng; Báo cáo tổng kết thi hành hoặc đánh giá thực trạng là 9.000.000 đồng; Báo cáo kinh nghiệm nước ngoài và Báo cáo rà soát VBQPPL là 9.000.000 đồng/báo cáo; Báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật do Bộ Tư pháp chủ trì là 18.000.000 đồng/báo cáo.
5. Vì sao tác giả luôn khuyến nghị lựa chọn "Phương án 3: Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng việc sửa đổi, ban hành văn bản quy phạm pháp luật"?
Tác giả kết luận Phương án 3 là tối ưu vì Phương án 1 (giữ nguyên hiện trạng Luật Đất đai 2013) không thể giải quyết được các điểm nghẽn thực tiễn và không thể chế hóa được Nghị quyết số 18-NQ/TW; Phương án 2 (can thiệp gián tiếp bằng tuyên truyền, đào tạo) thiếu tính bắt buộc pháp lý. Can thiệp trực tiếp bằng pháp luật tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, có giá trị bắt buộc thi hành chung, phân định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, đồng thời thiết lập chế tài xử lý nghiêm minh các vi phạm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Huyền Thảo là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, bám sát các chuẩn mực học thuật của chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật. Bằng việc vận dụng quy trình đánh giá tác động chính sách (RIA) theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, tác giả đã cung cấp bức tranh phân tích toàn diện, có cơ sở dữ liệu thực chứng vững chắc đối với công tác quy hoạch, cải tạo đất và cơ chế giao đất, cho thuê đất. Các so sánh phương án và kiến nghị lập pháp trong công trình thể hiện rõ tính thời sự, đóng góp thiết thực vào quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 18-NQ/TW trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).