Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống quản trị quốc gia, pháp luật giữ vai trò là công cụ chủ đạo nhằm duy trì trật tự xã hội và định hướng phát triển kinh tế. Để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ, bảo đảm tính logic, thống nhất, tránh sự chồng chéo và mâu thuẫn. Trong đó, luật và pháp lệnh là các hình thức VBQPPL có giá trị pháp lý cao, thời gian áp dụng dài và phạm vi điều chỉnh rộng lớn. Do đó, hoạt động đánh giá tác động của chính sách (ĐGTĐCS) đóng vai trò nền tảng, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn để cơ quan lập pháp cân nhắc, lựa chọn các giải pháp tối ưu trước khi quy phạm hóa.

ĐGTĐCS giúp các chủ thể hoạch định dự báo toàn diện những tác động tích cực và tiêu cực đối với năm khía cạnh: kinh tế, xã hội, giới, thủ tục hành chính và hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có hiệu lực, việc triển khai ĐGTĐCS đối với các dự án luật, pháp lệnh vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế về nguồn lực, nhận thức và phương pháp, dẫn đến tình trạng đánh giá mang tính hình thức. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài "Đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng luật, pháp lệnh" được thực hiện nhằm phân tích thực trạng pháp lý, đánh giá kết quả và tồn tại trên thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ĐGTĐCS.

Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích cơ sở lý luận, đánh giá quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện ĐGTĐCS trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh tại Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về ĐGTĐCS trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh.
    • Phân tích thực tiễn thực hiện, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động ĐGTĐCS tại Việt Nam.
    • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi ĐGTĐCS.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đánh giá tác động của chính sách trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận, quy định pháp luật, thực tiễn thi hành và giải pháp nâng cao hiệu quả ĐGTĐCS đối với luật, pháp lệnh.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn xây dựng luật, pháp lệnh tại các cơ quan trung ương và bộ, ngành tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu và quy định pháp lý được khảo sát từ thời điểm áp dụng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện thể chế và hệ thống pháp luật. Đồng thời, tác giả tổng hợp và kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về đánh giá tác động pháp luật (Regulatory Impact Analysis - RIA) và đánh giá tác động chính sách (Policy Impact Assessment - PIA):

  • Nghiên cứu quốc tế: Công trình của Scott Jacob (2006) về xu hướng lồng ghép RIA vào quy trình hoạch định chính sách; Raymond Mallon (2005) thuộc dự án hợp tác GTZ và Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ với hướng dẫn quy trình RIA và hai phương pháp phân tích lợi ích - chi phí (CBA), hiệu quả - chi phí (CEA); báo cáo của Delia Rodrigo (2005) thuộc OECD về các thách thức trong triển khai RIA tại các quốc gia đang phát triển.
  • Nghiên cứu trong nước: Các công trình của PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2009) về tiêu chí đánh giá tác động của VBQPPL; TS. Đoàn Thị Tố Uyên (2016, 2017) về đánh giá tác động pháp luật theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; TS. Phan Chí Hiếu (2008); tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp phối hợp với USAID và UNDP.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích trực tiếp gồm:

  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020.
  • Thông tư số 338/2016/TT-BTC ngày 28/12/2016 và Thông tư số 42/2022/TT-BTC ngày 06/07/2022 của Bộ Tài chính về định mức chi tài chính cho công tác xây dựng VBQPPL và ĐGTĐCS.
  • Thông tư số 03/2022/TT-BTP của Bộ Tư pháp ban hành biểu mẫu đánh giá tác động thủ tục hành chính.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các quy định pháp luật và tổng kết thực tiễn báo cáo ĐGTĐCS.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu định mức kinh phí, tỷ lệ báo cáo giữa các năm và sự khác biệt giữa các nhóm tác động.
  • Phương pháp khái quát hóa: Rút ra các kết luận lý luận, mô hình hóa quy trình và các nhóm nguyên nhân của hạn chế.
  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập dữ liệu từ các Báo cáo tổng kết công tác tư pháp các năm 2021, 2022 và 6 tháng đầu năm 2023 của Bộ Tư pháp, cùng số liệu khảo sát thứ cấp 37 báo cáo ĐGTĐCS giai đoạn 2017 – 8/2020 từ nghiên cứu của Lê Tuấn Phong (2021).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Khái quát về đánh giá tác động chính sách trong xây dựng luật, pháp lệnh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách và hoạt động ĐGTĐCS trong quy trình lập pháp:

  1. Khái niệm và cấu trúc chính sách: Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề thực tiễn nhằm đạt mục tiêu nhất định. Chính sách cấu thành từ 3 yếu tố: (i) Vấn đề thực tiễn cần giải quyết; (ii) Định hướng, mục tiêu chính sách; (iii) Các giải pháp thực hiện.
  2. Khái niệm ĐGTĐCS trong xây dựng luật, pháp lệnh: Theo Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định số 154/2020/NĐ-CP), ĐGTĐCS là việc phân tích, dự báo tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp tối ưu. Đối với luật và pháp lệnh, hoạt động này diễn ra trước khi quy phạm hóa, đóng vai trò là căn cứ thuyết phục cho quyết định lập pháp.
  3. Chủ thể thực hiện ĐGTĐCS: Theo Khoản 1 Điều 35 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), chủ thể chịu trách nhiệm đánh giá là cơ quan, tổ chức lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh (Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên) hoặc Đại biểu Quốc hội (được hỗ trợ bởi Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH, Viện Nghiên cứu lập pháp). Trường hợp có chính sách mới đề xuất trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra thì cơ quan đề xuất phải thực hiện ĐGTĐCS bổ sung.
  4. Năm nội dung bắt buộc đánh giá theo Điều 6 Nghị định 34/2016/NĐ-CP:
    • Tác động kinh tế: Phân tích chi phí - lợi ích đối với Nhà nước (thu - chi ngân sách, đầu tư công), Người dân (thu nhập, chi phí thời gian, phí/thuế tuân thủ), Doanh nghiệp/tổ chức (chi phí sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh) và các đối tượng khác.
    • Tác động xã hội: Phân tích, dự báo tác động đối với tối thiểu 11 lĩnh vực: dân số, việc làm, tài sản, sức khỏe, môi trường, y tế, giáo dục, đi lại, giảm nghèo, giá trị văn hóa truyền thống, gắn kết cộng đồng.
    • Tác động về giới: Đánh giá tác động đến cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng quyền của mỗi giới; làm rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới thực chất hoặc bảo vệ, hỗ trợ người mẹ.
    • Tác động của thủ tục hành chính (TTHC): Đánh giá sự cần thiết, tính hợp pháp, tính hợp lý và chi phí tuân thủ TTHC của người dân, tổ chức và cơ quan giải quyết.
    • Tác động đối với hệ thống pháp luật (HTPL): Đánh giá 05 khía cạnh gồm sự phù hợp với tổ chức bộ máy nhà nước; điều kiện bảo đảm thi hành; tính tương thích với quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp; tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành; tính tương thích với các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà Việt Nam là thành viên.
  5. Phương pháp ĐGTĐCS: Gồm phương pháp định tính (điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, tham vấn chuyên gia) và phương pháp định lượng (chủ yếu là phân tích Lợi ích - Chi phí / CBA theo hướng tối đa hóa lợi ích hoặc tối đa hóa hiệu quả chi phí). Văn bản quy định đối với cùng một loại tác động của một chính sách không áp dụng đồng thời hai phương pháp mà phải chọn phương pháp thống nhất để so sánh giữa các giải pháp.
  6. Quy trình 5 bước ĐGTĐCS:
    • Bước 1 - Lập kế hoạch ĐGTĐCS: Mô tả vấn đề, xác định đối tượng chịu tác động, sàng lọc loại tác động trọng tâm, xác định chỉ tiêu/mô hình tính toán và lập phương án nhân lực, dự toán kinh phí.
    • Bước 2 - Thực hiện ĐGTĐCS: Thu thập dữ liệu định tính, định lượng và tiến hành phân tích độc lập từng loại tác động.
    • Bước 3 - Tổng hợp, so sánh kết quả và dự thảo Báo cáo ĐGTĐCS: Tổng hợp kết quả, so sánh các phương án (theo phương pháp xếp hạng hoặc mô tả) để lựa chọn giải pháp tối ưu và lập dự thảo báo cáo.
    • Bước 4 - Lấy ý kiến về Dự thảo Báo cáo ĐGTĐCS: Tổ chức tham vấn công chúng, chuyên gia và các bên chịu tác động; tổng hợp, giải trình và tiếp thu ý kiến chỉnh lý.
    • Bước 5 - Hoàn thiện Báo cáo và Hồ sơ ĐGTĐCS: Hoàn chỉnh báo cáo chính thức kèm các phụ lục tính toán để trình cơ quan có thẩm quyền.
  7. Ý nghĩa của hoạt động ĐGTĐCS: Góp phần hạn chế sai sót, nâng cao chất lượng thi hành luật, pháp lệnh; bảo đảm tính công khai, minh bạch; thúc đẩy công bằng xã hội; và bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật với các cam kết quốc tế.

Chương 2. Thực tiễn đánh giá tác động chính sách trong xây dựng luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn thông qua việc tổng hợp số liệu thực tế từ các báo cáo ngành Tư pháp và khảo sát thực nghiệm:

1. Kết quả đạt được

  • Về số lượng:
    • Năm 2021: Các bộ, ngành và địa phương thực hiện ĐGTĐCS đối với 308 đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL (gồm 21 dự án luật, 01 nghị quyết UBTVQH, 58 nghị định, 01 quyết định của Thủ tướng, 235 đề nghị xây dựng nghị quyết HĐND cấp tỉnh). Quốc hội đã thông qua 02 luật (Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều và Phụ lục - Danh mục chỉ tiêu thống kê quốc gia của Luật Thống kê), 05 nghị quyết, cho ý kiến 05 dự án luật và thông qua 01 pháp lệnh (Pháp lệnh Ưu đãi người có công với Cách mạng). ĐGTĐ 1.247 TTHC tại 115 dự thảo (đề xuất bãi bỏ 149 TTHC).
    • Năm 2022: Thực hiện ĐGTĐCS đối với 603 đề nghị, dự án, dự thảo VBQPPL (gồm 15 dự án luật, 03 nghị quyết UBTVQH, 75 nghị định, 44 thông tư, 246 đề nghị nghị quyết HĐND và 220 dự thảo nghị quyết HĐND cấp tỉnh). Quốc hội thông qua 12 luật, cho ý kiến 14 dự án luật và thông qua 03 pháp lệnh liên quan đến Tòa án nhân dân và xử phạt hành chính cản trở hoạt động tố tụng. ĐGTĐ 1.037 TTHC tại 160 văn bản (đề xuất bãi bỏ 117 TTHC).
    • 6 tháng đầu năm 2023: ĐGTĐCS đối với 359 văn bản (gồm 19 luật, 04 nghị quyết UBTVQH, 39 nghị định, 42 thông tư, 146 đề nghị và 106 dự thảo nghị quyết HĐND cấp tỉnh); ĐGTĐ 335 TTHC tại 72 văn bản (đề xuất bãi bỏ 09 TTHC).
  • Về chất lượng: Nhiều báo cáo ĐGTĐCS đã thực hiện đầy đủ 5 nội dung tác động và sử dụng số liệu chứng minh rõ nét. Các dự án luật tiêu biểu gồm: Luật Điện ảnh (sửa đổi), Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi), Luật Thi đua, khen thưởng (sửa đổi). Điển hình, dự thảo Báo cáo ĐGTĐCS đề nghị xây dựng Luật Lưu trữ (sửa đổi) của Bộ Nội vụ (năm 2021) đánh giá 5 nhóm chính sách lớn; trong đó Chính sách 4 (về quản lý di sản tư liệu thế giới) đã khảo sát chi tiết hiện trạng của 07 di sản tư liệu thế giới, phân tích tổ chức bộ máy, kinh phí và so sánh 02 giải pháp cụ thể.
  • Về kinh phí: Kinh phí cho ĐGTĐCS được cải thiện rõ rệt sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 42/2022/TT-BTC (thay thế Thông tư số 338/2016/TT-BTC).
Nội dung chi theo văn bản Mức chi theo TT 338/2016/TT-BTC Mức chi theo TT 42/2022/TT-BTC
Báo cáo ĐGTĐCS luật, pháp lệnh 8.000.000 đồng/báo cáo 20.000.000 đồng/báo cáo
Báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới Chưa quy định riêng 5.000.000 đồng/báo cáo
Bản đánh giá thủ tục hành chính Chưa quy định riêng 5.000.000 đồng/bản
Ý kiến tham luận bằng văn bản của thành viên 500.000 đồng/văn bản 1.000.000 đồng/văn bản
Chủ trì cuộc họp/hội thảo 150.000 đồng/người/cuộc họp 150.000 đồng/người/cuộc họp
Thành viên tham dự cuộc họp 100.000 đồng/người/cuộc họp 100.000 đồng/người/cuộc họp
  • Về tiến độ: Đáp ứng kịp thời chương trình lập pháp của Quốc hội. Điển hình tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XV đã thông qua 07 luật (Luật Căn cước, Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi, Luật Nhà ở sửa đổi, Luật Tài nguyên nước sửa đổi, Luật Viễn thông sửa đổi...). Đối với Luật Đất đai (sửa đổi), sau ý kiến lần 1 tại Kỳ họp thứ 3 (5/2022), cơ quan chủ trì đã bổ sung 12 nội dung ĐGTĐ mới từ kết quả lấy ý kiến nhân dân trước khi trình Quốc hội cho ý kiến lần 2 tại Kỳ họp thứ 5 (5/2023).

2. Hạn chế và bất cập

  • Về số lượng: Tỷ lệ văn bản được ĐGTĐCS ở cấp bộ, ngành còn thấp so với tổng số văn bản ban hành/trình ban hành (Năm 2021: ban hành/trình 784 VBQPPL nhưng chỉ ĐGTĐCS 81 văn bản; Năm 2022: ban hành/trình 602 VBQPPL nhưng chỉ ĐGTĐCS 137 văn bản).
  • Về chất lượng: Nhiều báo cáo còn mang tính hình thức, thiếu tiêu chí định lượng rõ ràng. Khảo sát thực tế 37 báo cáo ĐGTĐCS trong đề nghị xây dựng luật giai đoạn 2017 – 8/2020 cho thấy:
    • 17/37 báo cáo chỉ ghi ngắn gọn "không có tác động về giới"; 06/37 báo cáo hoàn toàn không đề cập đến tác động giới.
    • 10/37 báo cáo không đề cập hoặc nêu "không có tác động về thủ tục hành chính".
    • Một số báo cáo gộp chung nội dung kinh tế và xã hội, không tách bạch tiêu chí (như báo cáo đề nghị xây dựng Luật Thanh tra sửa đổi); hoặc không đặt tên chính sách cụ thể mà chỉ ghi "chính sách thứ nhất", "chính sách thứ hai" (Luật sửa đổi Luật Phòng, chống HIV/AIDS).
  • Về phương pháp: Chủ yếu dùng phương pháp định tính (22/37 báo cáo chỉ đánh giá định tính; chỉ 07/37 báo cáo sử dụng nhiều số liệu; 08/37 báo cáo có sử dụng số liệu kinh tế/TTHC). Các dự án luật kinh tế (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì) lại có ít số liệu định lượng, trong khi các dự án luật xã hội (do Bộ Y tế, Bộ LĐ-TB&XH chủ trì) sử dụng số liệu phong phú hơn.
  • Về quy trình: Còn tình trạng bỏ qua đánh giá TTHC trước khi gửi thẩm định, thiếu Biểu mẫu đánh giá TTHC theo Phụ lục I Thông tư 03/2022/TT-BTP.

3. Nguyên nhân của hạn chế

Tác giả xác định 07 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế:

  1. Quy định pháp luật chưa hoàn thiện: Quy định bắt buộc đánh giá cả 5 loại tác động khiến nội dung quá rộng; chưa có cơ chế kiểm tra, thẩm định chuyên biệt về chất lượng báo cáo ĐGTĐCS và thiếu chế tài đối với hồ sơ không bảo đảm.
  2. Điều kiện bảo đảm còn hạn chế: Mức chi ngân sách dù đã tăng nhưng chưa tương xứng để thực hiện các cuộc điều tra xã hội học quy mô lớn hoặc thuê chuyên gia cao cấp.
  3. Thiếu công cụ chuẩn hóa: Chưa có sổ tay quy trình chuẩn hóa phương pháp, tiêu chí cho từng ngành, lĩnh vực đặc thù.
  4. Thiếu chế định kiểm soát chất lượng chuyên biệt: Bộ Tư pháp thẩm định dự án luật nhưng chưa có thẩm quyền độc lập từ chối hồ sơ chỉ vì chất lượng ĐGTĐCS không đạt chuẩn kỹ thuật.
  5. Thiếu hệ thống dữ liệu thống kê đồng bộ: Dữ liệu giữa Tổng cục Thống kê và các bộ, ngành còn chênh lệch, thiếu chính xác, gây khó khăn cho việc lập mô hình định lượng.
  6. Nhận thức và tiến độ của cơ quan chủ trì: Một số nơi coi nhẹ ĐGTĐCS, làm đối phó để đủ thủ tục hồ sơ; gửi đề nghị xây dựng luật đến Bộ Tư pháp còn chậm.
  7. Năng lực cán bộ và sự tham gia của đối tượng chịu tác động: Cán bộ làm ĐGTĐCS chủ yếu là công chức trẻ, thiếu kỹ năng kinh tế lượng và phân tích chi phí - lợi ích; việc lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp và chuyên gia độc lập còn mang tính hình thức, mờ nhạt.

Chương 3. Giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách trong xây dựng luật, pháp lệnh

Từ việc nhận diện các nguyên nhân cốt lõi ở Chương 2, tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Rà soát, sửa đổi các quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP theo hướng phân cấp mức độ đánh giá tác động: cho phép xác định nội dung trọng tâm tùy theo tính chất từng đạo luật (kinh tế, xã hội, tư pháp), tránh dàn trải hình thức cả 5 nội dung.
    • Thiết lập quy định về tiêu chí kỹ thuật chuẩn đối với Báo cáo ĐGTĐCS và bổ sung chế tài pháp lý rõ ràng: kiên quyết trả lại hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh nếu Báo cáo ĐGTĐCS không đạt yêu cầu về dữ liệu hoặc chưa thực hiện đánh giá TTHC, lồng ghép giới theo luật định.
  2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện:
    • Xây dựng bộ công cụ hướng dẫn nghiệp vụ và sổ tay hướng dẫn ĐGTĐCS chuyên ngành cho từng lĩnh vực đặc thù (thuế, đầu tư, tư pháp, bảo trợ xã hội).
    • Tăng cường đào tạo, tập huấn chuyên sâu kỹ năng phân tích định lượng, phương pháp phân tích Lợi ích - Chi phí (CBA) và phân tích Chi phí - Hiệu quả (CEA) cho đội ngũ công chức pháp chế.
    • Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân bổ và sử dụng kinh phí bảo đảm nguồn lực tài chính thực chất cho các hoạt động khảo sát thực địa, phỏng vấn chuyên sâu và phản biện độc lập.
  3. Nhóm giải pháp khác:
    • Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin thống kê quốc gia dùng chung, đồng bộ giữa Tổng cục Thống kê với các bộ, ngành nhằm cung cấp nguồn dữ liệu đầu vào tin cậy cho việc tính toán định lượng.
    • Đổi mới phương thức tham vấn công chúng và đối tượng chịu tác động trực tiếp; đa dạng hóa hình thức lấy ý kiến thông qua cổng thông tin điện tử, diễn đàn chính sách công khai và tăng cường sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học độc lập.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả chính của nghiên cứu

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích toàn diện bức tranh thực trạng ĐGTĐCS trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh tại Việt Nam từ năm 2015 đến năm 2023. Kết quả phản ánh rõ qua các số liệu thống kê:

Tiêu chí thống kê thực tế Năm 2021 Năm 2022 6 tháng đầu năm 2023
Tổng số VBQPPL thực hiện ĐGTĐCS (toàn quốc) 308 văn bản 603 văn bản 359 văn bản
Số dự án luật được ĐGTĐCS 21 dự án 15 dự án 19 dự án
Số TTHC được đánh giá tác động 1.247 TTHC 1.037 TTHC 335 TTHC
Số TTHC đề xuất bãi bỏ sau đánh giá 149 TTHC 117 TTHC 09 TTHC
Số VBQPPL ban hành/trình ban hành (cấp bộ, ngành) 784 văn bản 602 văn bản (Chưa tổng kết)
Số VBQPPL được ĐGTĐCS (cấp bộ, ngành) 81 văn bản 137 văn bản (Chưa tổng kết)

2. Đóng góp của đề tài

  • Về lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐGTĐCS chuyên biệt cho phân khúc văn bản luật và pháp lệnh; làm rõ quy trình kỹ thuật 5 bước và các tiêu chí phân tích định tính, định lượng phù hợp với điều kiện thể chế tại Việt Nam.
  • Về thực tiễn: Chỉ ra các hạn chế thực chứng thông qua khảo sát 37 báo cáo đề nghị xây dựng luật (như tỷ lệ 22/37 chỉ đánh giá định tính, 17/37 báo cáo bỏ qua đánh giá tác động giới). Khóa luận làm rõ vai trò then chốt của hoạt động tham vấn công chúng và sự cần thiết phải kết hợp nhiều nội dung đánh giá để làm căn cứ hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử và chuyển đổi số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Dữ liệu khảo sát chuyên sâu về 37 báo cáo đề nghị xây dựng luật phụ thuộc vào công bố thứ cấp trong giai đoạn từ đầu năm 2017 đến tháng 8/2020.
    • Các giải pháp định lượng chi phí - lợi ích (CBA) mới dừng lại ở mức đề xuất nguyên tắc chung, chưa xây dựng được mô hình toán kinh tế cụ thể cho từng ngành luật chuyên biệt do giới hạn nguồn lực và phạm vi của khóa luận tốt nghiệp cử nhân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu xây dựng khung chỉ số định lượng chi phí tuân thủ pháp luật và mô hình kinh tế lượng áp dụng riêng cho các dự án luật trong lĩnh vực kinh tế - tài chính.
    • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng dữ liệu số trong việc tự động hóa thu thập dữ liệu và tham vấn chính sách trực tuyến trong quy trình lập pháp.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Luật và Quản lý công: Phục vụ học tập các học phần Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hành chính, Khoa học lập pháp và Phân tích chính sách công.
  • Cán bộ pháp chế tại các bộ, ban, ngành: Tham khảo quy trình 5 bước thực hiện ĐGTĐCS, các tiêu chí đánh giá 5 nội dung bắt buộc theo Điều 6 Nghị định 34/2016/NĐ-CP và khung định mức chi tài chính theo Thông tư 42/2022/TT-BTC.
  • Người nghiên cứu xây dựng chính sách: Nắm bắt các lỗi thường gặp (đánh giá hình thức, bỏ qua tác động giới/TTHC, thiếu dữ liệu định lượng) để khắc phục trong quá trình lập hồ sơ đề nghị xây dựng VBQPPL.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ quan nào có trách nhiệm thực hiện ĐGTĐCS trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh?

Theo Khoản 1 Điều 35 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiến hành ĐGTĐCS đối với từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức thành viên của Mặt trận. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH, Viện Nghiên cứu lập pháp hỗ trợ xây dựng Báo cáo ĐGTĐCS. Trường hợp có chính sách mới phát sinh trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra thì cơ quan đề xuất chính sách mới phải thực hiện ĐGTĐCS bổ sung.

2. Pháp luật Việt Nam quy định bắt buộc phải đánh giá những nội dung tác động nào?

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 của Chính phủ, báo cáo ĐGTĐCS bắt buộc phải đánh giá 05 nội dung: (1) Tác động về kinh tế; (2) Tác động về xã hội; (3) Tác động về giới (nếu có); (4) Tác động của thủ tục hành chính (nếu có); và (5) Tác động đối với hệ thống pháp luật.

3. Định mức kinh phí chi cho việc lập Báo cáo ĐGTĐCS của luật, pháp lệnh theo quy định hiện hành là bao nhiêu?

Căn cứ Thông tư số 42/2022/TT-BTC ngày 06/07/2022 của Bộ Tài chính (sửa đổi Thông tư số 338/2016/TT-BTC), mức chi cho Báo cáo ĐGTĐCS đối với luật, pháp lệnh là 20.000.000 đồng/báo cáo (tăng từ mức 8.000.000 đồng trước đây). Ngoài ra, Thông tư bổ sung mức chi riêng cho Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới là 5.000.000 đồng/báo cáo; Bản đánh giá thủ tục hành chính là 5.000.000 đồng/bản; và mức chi cho ý kiến tham luận bằng văn bản tăng lên 1.000.000 đồng/văn bản.

4. Báo cáo đề nghị xây dựng luật giai đoạn 2017 – 8/2020 bộc lộ hạn chế gì về phương pháp và đánh giá tác động giới?

Theo số liệu khảo sát 37 báo cáo ĐGTĐCS trong giai đoạn từ đầu năm 2017 đến tháng 8/2020:

  • Về phương pháp: Có tới 22/37 báo cáo chỉ áp dụng phương pháp định tính; chỉ 07/37 báo cáo sử dụng nhiều số liệu định lượng; 08/37 báo cáo có số liệu về kinh tế/TTHC.
  • Về tác động giới: Có 17/37 báo cáo chỉ ghi ngắn gọn "không có tác động về giới" và 06/37 báo cáo hoàn toàn không đề cập đến nội dung này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã làm sáng tỏ khung lý luận và thực trạng pháp lý về hoạt động đánh giá tác động của chính sách trong quy trình xây dựng luật, pháp lệnh tại Việt Nam theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Thông qua hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2021 – 2023, tác giả đã chỉ rõ những bước tiến về thể chế, kinh phí cũng như những tồn tại cố hữu về tính hình thức, sự thiếu hụt dữ liệu định lượng và cơ chế kiểm soát chất lượng báo cáo. Các nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn thiết thực nhằm nâng cao chất lượng lập pháp, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ và hiệu lực của các văn bản luật, pháp lệnh trong giai đoạn hoàn thiện nhà nước pháp quyền hiện nay.