đặt vấn đề vào chương trình nghị sự quốc gia và ngăn chặn việc nêu lên vấn đề khác trở thành ưu tiên chính sách. Tham gia vào giai đoạn thảo luận chính sách: Tại giai đoạn này, VĐCS công đóng vai trò trong việc đưa ra các phương án chính sách và tối ưu hóa lựa chọn sau khi chính sách đã được đưa vào chương trình nghị sự và đang trong quá trình bàn bạc, thảo luận trước Quốc hdi/Nghi viện. Tham gia vào giai đoạn ra quyết định chính sách: Tại giai đoạn này, hoạt động VĐCS công thúc đây việc ban hành các thủ tục pháp lý cần thiết để chính sách chính thức được thông qua hoặc ngăn cản việc thông qua một chính sách nào đó mà không có lợi cho tổ chức hoặc ngành công nghiệp mà họ đại diện. Tham gia vào giai đoạn thực thi chính sách: Tại giai đoạn này, hoạt động VĐCS công làm cho quá trình thực thi chính sách đạt được mục tiêu ban đầu nếu việc thực hiện chính sách có lợi cho tô chức.
Đôi khi hoạt động 13 VĐCS cũng có thể được sử dụng dé ngăn can việc thực thi một chính sách nào đó hoặc gây áp lực để làm cho việc thực thi chính sách đi chệch mục đích ban đầu nhưng lại có lợi cho tổ chức hoặc nhóm vận động. Mục tiêu cuối cùng của hoạt động VĐCS công là tạo ra sự thay đôi cu thể trong các chính sách, hoạt động, chương trình, và phân bỗ nguồn lực dé đem lại lợi ích cho những người tham gia vào quy trình chính sách. Tuy nhiên, mục tiêu vận động có thể thay đôi tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể và giai đoạn của chính sách [15, tr. Sự cần thiết vận động chính sách công Sự cần thiết của hoạt động VĐCS công thể hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu thông tin từ phía các nhà hoạch định chính sách [15, tr.
Trong các xã hội hiện đại, luôn ton tại nhiều nhóm lợi ích khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau. Các nhóm lợi ích này có thé là các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các tô chức xã hội, các cá nhân,. Mỗi nhóm lợi ích đều có những lợi ích riêng mà họ muốn được bảo vệ và thúc đây. Các nhà hoạch định chính sách là những người có trách nhiệm đưa ra các quyết định chính sách nhằm đáp ứng lợi ích chung của xã hội.
Tuy nhiên, họ không thể nắm bắt được đầy đủ thông tin về tất cả các vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm lợi ích trong xã hội. Do đó, hoạt động VDCS công giúp các nhà hoạch định chính sách thu thập thông tin từ các nhóm lợi ích, từ đó đưa ra các quyết định chính sách phù hợp hơn với thực tế. Thứ: hai, xuất phát từ nhu cầu tham gia vào quá trình chính sách dé thực hiện hiệu quả hơn quyền lực của công dân [15, tr. Trong các thiết chế dân chủ, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp rất lớn, nhưng trên thực tế, người dân không có đủ điều kiện để thực hiện một cách hiệu quả những quyên luật định ấy của mình.
Họ có thể không có khả năng tiếp cận chính thức với các cơ quan hay cá nhân có thâm quyên, cũng như khả năng 14 diễn đạt, thuyết phục. Do đó, hoạt động VDCS công giúp người dân có thé tham gia hiệu quả hơn vào quá trình hoạch định, ban hành, thực thi và đánh giá chính sách công. Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu củng cố quyền lực của các chủ thé cam quyền [15, tr. Mặc dù đôi khi có sự căng thăng giữa các chuyên gia VĐCS công với các cơ quan nhà nước có thâm quyền nhưng giữa họ vẫn tồn tai mối quan hệ cộng sinh, phụ thuộc lẫn nhau.
Các nhà VĐCS công cần chính sách có lợi cho chủ thể của mình nên họ phải làm việc với các chủ thể quyền lực công dé tác động tới quá trình ra chính sách. Còn các chủ thể quyền lực công làm việc với nhà vận động là bởi họ cần thông tin liên quan, bổ sung đầu vào cho thủ tục chính sách. Các nhà VĐCS công là những người kiểm soát được nguồn thông tin liên quan đến các vấn đề mà họ vận động, vì vậy, họ cung cấp tư liệu cho các chủ thé quyền lực công một cách dé dàng nhất - thông tin từ bên ngoài về những vấn đề mà các cơ quan công quyền đang bản hoặc có thé bàn tới. Trong khi đó, các chủ thé quyền lực công lại không có điều kiện dé tập hợp thông tin, do đó, họ phải dựa vào nhân lực ưu thế của các nhà vận động dé kiến nghị giải pháp cho các van dé, dự thảo luật, cung cấp chứng cứ, phát triển chiến lược pháp luật, thuyết phục Quốc hội, Chính phủ tán thành, đôi khi còn nêu những vấn đề khác nữa.
Vì chịu áp lực từ nhiều phía nên các cơ quan công quyền phải đáp ứng trước áp lực nào mạnh nhất. Chủ thể vận động chính sách công Trong một xã hội dân chủ, không một cá nhân nào có quyền quyết định một chính sách công. Mọi quyết định chính sách đều có tính chất tập thể, đến từ đảng cầm quyền hoặc Nhà nước, là kết quả của sự vận động, tác động từ nhiều chủ thể khác nhau [45, tr.TS Dé Phú Hải và PGS.TS Vũ Công Giao “mỗi một khâu trong quá trình chính sách đều có các chủ thé chính sách khác nhau, và vai trò của các chủ thê là khác nhau trong từng khâu 15 của quá trình” [45, tr. Các chính trị gia, đảng phái, các quan chức nhà nước, và các chuyên gia có vai trò quan trọng trong việc đề xuất, soạn thảo và thảo luận chính sách.
Tuy nhiên, quan điểm và ý kiến của cộng đồng xã hội cũng đóng vai trò quan trọng thông qua các phương tiện truyền thông, cuộc thảo luận công cộng, và các hình thức tham gia khác. Sự đồng thuận và phản hồi của cộng đồng xã hội là yếu tố quan trọng trong quá trình quyết định chính sách. Các chính trị gia và quan chức nhà nước cần lắng nghe ý kiến và phản hồi từ cộng đồng để đảm bảo chính sách được định hình dựa trên nhu cầu và quyén lợi của người dân. Nhân dân có vai trò quan trọng trong việc thực hiện, đánh giá và củng cô giá trị của chính sách.
Họ có quyền tham gia vào các quá trình quyết định chính sách thông qua việc bau cử, biểu tình, tham gia các tổ chức xã hội và tham gia vào cuộc thảo luận về chính sách. Sự đồng thuận và phản hồi của nhân dân có thé tao áp lực để điều chỉnh hoặc thay đồi chính sách nếu can. Quá trình hoạch định chính sách bởi đảng cầm quyền và Nhà nước có sự tham gia của xã hội là một xu hướng tất yếu trong các xã hội dân chủ. Ở Việt Nam, quá trình này còn có sự tham gia của cả hệ thống chính trị mà trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò trung tâm, cốt lõi trong hoạch định các chính sách quan trọng.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vai trò của Mặt trận Tổ quốc ngày càng được chú trọng. Tiếng nói trực tiếp của người dân và báo chí cũng ngày càng được nâng cao [45, tr. Đối với hoạt động xây dựng chính sách của Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ là các chủ thể quan trọng, trung tâm trong việc xây dựng chính sách công ở nước ta. Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách công của Nhà nước còn có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các doan thé, tổ chức chính trị - xã hội, người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi chính sách.
Việc tham gia của các chủ thê này giúp cho quá trình xây dựng chính sách được thực hiện 16 một cách dân chủ, minh bạch và hiệu quả hơn. Đối với hoạt động thực hiện chính sách, hệ thống hành pháp đóng vai trò chính, tuy nhiên, cũng có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thé chính trị, dưới sự lãnh đạo, giám sát, kiêm tra của Đảng [45, tr. Ngày nay, việc thực hiện chính sách công còn có sự tham gia của khu vực xã hội và doanh nghiệp. Việc hợp tác hay thiết lập mạng lưới với khu vực tư nhân và khu vực xã hội đem lại nhiều nguồn lực cho việc thực hiện chính sách công, hay nói cách khác là làm cho chính sách khả thi hơn.
Đối với khâu đánh giá chính sách, vai trò chính được quyết định bởi thể chế chính sách công và loại hình đánh giá chính sách [45, tr. Ở nước ta hiện nay, vai trò chính trong việc đánh giá chính sách vẫn là Đảng, Nhà nước và các tô chức trong hệ thống chính tri. Dang và Nhà nước có trách nhiệm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của các chính sách công đã ban hành. Các tổ chức trong hệ thống chính trị cũng có vai trò tham gia đánh giá chính sách.
Mặc dù vậy, vai trò của người dân, doanh nghiệp và báo chí trong việc đánh giá chính sách công ngày càng được nâng cao. Ý kiến của người dân, doanh nghiệp và báo chí về tính phù hợp và hiệu quả của các chính sách công ngày càng được Đảng và Nhà nước coi trọng, tiếp thu. Quy trình vận động chính sách công Quá trình chính sách không phải là một quá trình tuyến tính, mà là một quá trình lặp đi lặp lại, bắt đầu từ việc xác định vấn dé, sau đó là xây dựng và thực thi chính sách, cuối cùng là đánh giá kết quả của chính sách và điều chỉnh nếu cần thiết. Trong thực tế, việc VĐCS sẽ thiết thực hơn nếu được thực hiện qua từng chu trình chính sách.
Điều này giúp các chủ thé tham gia chính sách có thể nắm bắt được diễn biến của chính sách, từ đó đưa ra những phản hồi và điều chỉnh phù hop. Có nhiều cách để phân chia các giai đoạn 17 trong quy trình VĐCS công, và mỗi cách tiếp cận đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng. Đối với cách tiếp cận của quy trình chín bước: xác định van dé; xác định mục tiêu; phân tích và thu thập thông tin; xác định đối tượng và các hình thức vận động; xác định các dạng thông điệp vận động; xác định nguồn lực; xây dựng liên minh; xác định các kế hoạch hoạt động; thực hiện theo dõi và đánh giá [15, tr. Một cách tiếp cận khác phân chia quy trình VĐCS công như sau: i) phân tích, xây dựng chiến lược; ii) nghiên cứu, khảo sát; iii) phát triển mạng lưới và liên minh; iv) VDHL, tranh thủ mối quan hệ cá nhân; v) phát động chiến dịch; vi) sử dụng thông tin đại chúng; vii) xuất bản phẩm, hội thảo, hội nghị, tọa đàm v.