Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TRUYỀN THÔNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Những vấn đề chung về chính sách phát triển khoa học và công nghệ 1. Khái quát về chính sách công 1. Khái niệm “Chính sách công” Khái niệm “Chính sách” Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [46, tr.
Theo Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó, tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [12, tr. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. Khái niệm “Chính sách công” Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công. Cho đến nay có nhiều quan điểm về khái niệm này: Theo quan điểm của William N.
Dunn thì: “Chính sách công (CSC) là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” [26, tr. Guy Peter đưa ra định nghĩa: “Chính sách công 13 là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân” [26, tr.39], … Theo tác giả Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của Đảng chính trị cầm quyền” [16, tr. Như vậy, chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng. Hay chính sách công là một chuỗi các quyết định của nhà nước được thực thi trên thực tế nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định.
Cấu trúc của chính sách công Từ khái niệm trên về chính sách công, có thể thấy cấu trúc của CSC bao gồm hai bộ phận: mục tiêu chính sách công và giải pháp chính sách công. Thứ nhất, mục tiêu chính sách công. Mục tiêu CSC là các giá trị hoặc kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện các giải pháp chính sách. Mục tiêu CSC thể hiện ý chí của nhà nước trong việc giải quyết một vấn đề công.
Nếu nhà nước muốn giữ nguyên hiện trạng của vấn đề, nó sẽ không đề xuất một kế hoạch hành động mới và quyết định không làm gì cả, ngược lại, nếu nhà nước muốn thay đổi hiện trạng, nhà nước phải đề ra giải pháp cho vấn đề đó. Mục tiêu CSC cũng phản ánh thái độ của nhà nước đối với một vấn đề công, có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Một điểm quan trọng nữa là mục tiêu CSC phải phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước. Mục tiêu CSC được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể, từ định tính đến định lượng.
Thông thường, mục tiêu ban đầu của CSC, còn được gọi là mục tiêu chung, có yếu tố định tính, tức là được 14 thể hiện bằng lời nói thay vì thể hiện bằng con số. Nhưng mục tiêu chung này được cụ thể hóa thành các mục tiêu hoặc chỉ tiêu cấp cụ thể hơn. Các mục tiêu cụ thể này phản ánh các khía cạnh cụ thể của mục tiêu tổng thể trong một khoảng thời gian nhất định, phù hợp với các điều kiện thực hiện cụ thể. Các mục tiêu cụ thể này cung cấp cơ sở để theo dõi, đo lường và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu tổng thể của chính sách công.
Thứ hai, các giải pháp về chính sách công. Giải pháp là cách giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục tiêu CSC. Trên cơ sở các mục tiêu của CSC, nhà nước xác định các giải pháp phù hợp để đạt được các mục tiêu đó, giải pháp CSC phải phù hợp với mục tiêu CSC. Mục tiêu là giải pháp - đây là mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện.
Tuy nhiên, các mục tiêu CSC được thể hiện ở các mức độ khác nhau từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể. Vì vậy các giải pháp cũng “đi từ chung đến cụ thể”. Các giải pháp chung là định hướng về cách giải quyết một vấn đề và các giải pháp cụ thể chứa những cách cụ thể để đạt được các mục tiêu cụ thể. Các giải pháp cụ thể phải nêu rõ các công cụ được sử dụng để thực hiện CSC, các nguồn lực cần thiết (tài chính, vật lực, con người) và việc thực hiện dự kiến.
Nói một cách đơn giản, các cơ quan nhà nước các cấp chịu trách nhiệm thực hiện CSC phải xây dựng các quy định và thủ tục, thành lập tổ chức và thiết kế các chương trình, đề án và dự án cụ thể. Có thể thấy, cấu trúc của chính sách công bao gồm hai thành phần được lồng ghép và thống nhất, đó là mục tiêu và giải pháp của chính sách công. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ lôgic giữa cứu cánh và phương tiện, giữa nguyên nhân và kết quả. Chu trình chính sách công Khái niệm “Chu trình chính sách công” Chu trình chính sách được hiểu là quá trình luân chuyển các giai đoạn từ khởi sự cho một chính sách bất kỳ đến đến khi xác định được hiệu quả của 15 chính sách trong đời sống xã hội của con người hiện nay.
Chu trình chính sách gồm bốn giai đoạn từ khởi sự chính sách, hoạch định chính sách, thực thi chính sách; phân tích, đánh giá chính sách. Trong đó, TTCS đóng vai trò quan trọng đối với mỗi khâu của chu trình CSC. Sự tham gia của TTCS một mặt đảm bảo cho sự thành công của chính sách, mặt khác giúp cho chính sách ngày một được hoàn thiện hơn. Các giai đoạn trong chu trình chính sách: Giải đoạn 1: Khởi sự chính sách Giai đoạn này gồm các hoạt động xác định vấn đề chính sách và đưa vấn đề đó vào chương trình ban hành văn bản quản lý.
Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện mà vẫn có sự tham gia rộng rãi của xã hội, đặc biệt là các tổ chức chính trị – xã hội như mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của mặt trận. Giai đoạn 2: Hoạch định chính sách Đây là giai đoạn xây dựng chính sách và ra quyết định chính sách, xác định các giải pháp để đạt được mục tiêu đó, phân tích tác động của từng giải pháp và so sánh các giải pháp với nhau. Các chính sách được nghiên cứu để đề xuất nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai. Quá trình đề xuất chính sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt được tới mục tiêu đó.
Trên cơ sở lựa chọn giữa các phương án chính sách, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn một phương án tối ưu và ban hành chính sách công để đưa vào thực thi. Giai đoạn 3: Thực thi chính sách Đây là giai đoạn thực hiện các mục tiêu chính sách công trên thực tế, tức là đưa chính sách vào thực hiện trong đời sống xã hội. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện kiểm tra, đôn đốc và hiệu 16 chỉnh chính sách cùng các biện pháp tổ chức thực thi để chính sách phát huy tác dụng trong cuộc sống. Giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành bài của một chính sách.
Giai đoạn 4: Phân tích, đánh giá chính sách. Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của chính sách công với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế – xã hội đạt được thông qua việc thực thi chính sách trên thực tế. Đây là giai đoạn đo lường chi phí kết quả của việc thực hiện chính sách và các tác động thực tế của chính sách trong mối liên hệ với mục đích chính sách, từ đó xác định hiệu lực và hiệu quả của một chính sách trong thực tế. Trên cơ sở kết quả được đánh giá các cơ quan nhà nước có thể đưa ra những điều chỉnh chính sách nếu thấy cần thiết.
Các cơ quan nhà nước có thể điều chỉnh mục tiêu, thay đổi hoặc bổ sung các giải pháp mới, có thể quyết định tiếp tục thay đổi hay chấm dứt chính sách. Khái niệm chính sách phát triển khoa học và công nghệ Khái niệm khoa học và công nghệ Từ điển online “MacMillan English Dictionary for Advanced Learners” đã định nghĩa: “Khoa học là nghiên cứu và tri thức về thế giới vật lý và hành vi của nó được dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”. Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra khái niệm: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin; bao gồm kiến thức, kỹ năng. Theo điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi, bổ sung) năm 2018, “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”, còn “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện 17 dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”.
Ngoài ra, theo Luật KH&CN Việt Nam (sửa đổi, bổ sung) năm 2018 cũng đưa ra định nghĩa về hoạt động KH&CN có nội dung như sau: “Hoạt động KH&CN là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ.