Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nước cấp tỉnh trong thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội Chương 3: Thực trạng vai trò chính quyền tỉnh Bắc Ninh trong thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội Chương 4: Quan điểm và giải pháp phát huy vai trò nhà nước trong thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh. 11 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Thu hút vốn đầu tư là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi địa phương. Nhiệm vụ này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục do sự khan hiếm và tính cạnh tranh cao của các nguồn vốn đầu tư. Do đó, chủ đề thu hút vốn đầu tư nhận được sự quan tâm của nhiều chủ thể, từ các tổ chức quốc tế cho đến các Chính phủ cũng như các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: 1.
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những nghiên cứu về thu hút và sử dụng vốn đầu tƣ 1. Những nghiên cứu ngoài nước Xiong và Lin (2010) trong bài nghiên cứu “Research on the Efficiency and Its Factors of Financial Support about Listed Companies in Strategic Emerging Industry” đã tìm hiểu về mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và sự phát triển của thị trường tài chính tại Trung Quốc. Dữ liệu được thu thập từ cơ quan thống kê của chính phủ, thông qua phân tích chỉ số ICOR ở cả ba lĩnh vực kinh tế giai đoạn 1986 - 2005 bằng mô hình kinh tế lượng, tác giả đã cho thấy hiệu quả đầu tư có sự khác biệt giữa các ngành nghề.
Chính vì vậy, cần phải tính toán đến hiệu quả đầu tư của từng ngành để có chiến lược thu hút vốn đầu tư phù hợp [190]. Nghiên cứu về đầu tư của khu vực tư nhân, Kinda (2010) đã phân tích khá chi tiết các yếu tố ảnh hưởng tới việc thu hút dòng vốn này tại các nước đang phát triển trong “Increasing private capital flows to developing countries”. Đó là: co sở hạ tầng, chính sách đầu tu, tốc đọ tang truởng kinh tế của mỗi quốc gia, tỷ l lạm phát, đọ mở của thị truờng, giáo dục, tài nguyen thien nhien và sự ổn định của nền kinh tế. Với bộ dữ liệu lớn tại 58 quốc gia khác nhau, kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lớn bởi nó chỉ ra mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới khả năng thu hút vốn đầu tư bao gồm cả đầu tư trực tiếp trong nước, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp.
Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách có thể thiết kế chiến lược phù hợp trên quan điểm cải thiện những các yếu tố này, ưu tiên những yếu tố có mức ảnh hưởng lớn hơn [162]. Vidya Bhushan Rawat, Mamidi Bharath Bhushan, Sujatha Surepally (2011), trong NC “The impact of Special Economic Zones in India: A case study of Polepally 12 SEZ” lại nghiên cứu về khả năng thu hút vốn đầu tư của các đặc khu kinh tế. Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa sự tăng lên của các đặc khu kinh tế và tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 20 năm đầu thế kỷ 21. Những ưu đãi, chính sách mà chính phủ Ấn Độ dành cho các đặc khu kinh tế đã đem lại kết quả đó như ưu đãi miễn giảm thuế, cung cấp nguồn nhân lực (NNL) chất lượng cao, cải thiện hệ thống thông tin, đơn giản hoá các thủ tục hành chính ở bộ phận một cửa, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại và đầy đủ và các chính sách khuyến khích xuất khẩu.
Nghiên cứu đã chỉ ra việc xây dựng các đặc khu kinh tế là một trong những giải pháp thu hút vốn đầu tư khá hiệu quả [188]. “Capital Markets, Infrastructure Investment and Growth in the Asia Pacific Region” của Michael Regan (2017) đã phân tích về vai trò của thị trường vốn. Nghiên cứu chỉ ra rằng thị trường vốn là một trong những yếu tố thúc đẩy phát triển KT-XH. Bằng việc thu thập số liệu thực tiễn tại một số nước khu vực châu Á Thái Bình dương trong giai đoạn 2007 - 2014, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn đầu tư.
Nguồn vốn trên thị trường có thể được huy động từ nhiều hình thức khác nhau như từ hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân, hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian và thị trường chứng khoán. Hoàn thiện thị trường vốn và thúc đẩy thu hút dòng đầu tư chính là chìa khoá cho phát triển kinh tế [172]. Các nhà nghiên cứu nước ngoài còn tiếp cận các khía cạnh khác nhau trong thu hút vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư như thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút vốn đầu tư gián tiếp, thu hút vốn đầu tư doanh nghiệp trong nước… Trong đó, những nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài được quan tâm rất nhiều. Cụ thể: Rajan (2004) trong NC “Measures to Attract FDI Investment Promotion, Incentives and Policy Intervention” [184], Hornberger và cộng sự (2011) trong nghiên cứu “Attractive FDI: How Much Does Investment Climate Matter? Viewpoint: Public Policy for the Private Sector” [155], và nhiều nghien cứu khác cho thấy có mọt xu thế chạy đua để thu hút FDI tren toàn thế giới, tuy nhien các lý do thu hút FDI vào từng quốc gia khong giống nhau.
Các nghien cứu cũng đã tổng kết lại mọt số lý do hấp dẫn FDI chủ yếu bao gồm: (i) tìm kiếm nguồn lực bao gồm cả nguồn tài nguyen thien nhien và nguồn lực con người; (ii) tìm kiếm thị trường; (iii) tìm kiếm hi u quả đầu tư bằng cách giảm chi phí sản xuất, chi phí lao đọng; (iv) tìm kiếm tài sản chiến lược ở quốc gia tiếp nhạn ví dụ cong ngh mới, thưong hi u, các kenh phan phối. Theo đó, các nghien 13 cứu gợi ý rằng các quốc gia cần phải dựa tren tiềm lực và lợi thế rieng của mình, để có chính sách thu hút FDI cho phù hợp và hi u quả. (2013) trong “Foreign Direct Investment - Economic Growth Nexus: The Role of the Level of Financial Sector Development in Africa” lại đặt một tiếp cận nghiên cứu khác. Trong khi nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa thúc đẩy thu hút FDI và tăng trưởng kinh tế thì các tác giả lại tìm kiếm điểm ngưỡng đảo chiều.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, mối quan hệ tỷ lệ thuận kia chỉ có thể tồn tại dưới một điểm ngưỡng và nếu cố vượt qua điểm ngưỡng này thì việc thu hút FDI không những không mang lại hiệu quả tốt mà có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế [182]. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách hiểu rằng không nên thu hút FDI bằng bất k giá nào và thu hút một cách “thiếu tính toán”. Tương tự, Melnyk và cọng sự (2014) trong “The impact of foreign direct investment on economic growth: case of post communism transition economies” ngoài việc đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế trong các nền kinh tế chuyển đổi cũng cho thấy tác động này chỉ có giá trị đến một ngưỡng nhất định. Trên thực tế, sự phụ thuộc quá lớn vào FDI cũng sẽ gây những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ.
Vì thế, việc cân đối trong thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng hiệu quả hơn [169]. Những nghiên cứu trong nước Nguyễn Van Hùng (2009) đã thực hiện nghien cứu về tang cuờng huy đọng vốn đầu tu cho phát triển kinh tế xã họi vùng Tay Nguyen. Bắt đầu bằng việc đánh giá tác động của vốn đầu tư tới phát triển KT-XH của vùng Tây Nguyên tác giả cho thấy thu hút vốn đầu tư là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, thực trạng huy động nguồn vốn đầu tư vào khu vực này vẫn còn rất nhiều hạn chế, đó là bởi những hạn chế trong thực hiện vai trò Nhà nước của CQĐP.
Từ đó, giải pháp đặt ra nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư chủ yếu liên quan đến hành động của chính quyền các tỉnh như cải thiện môi trường kinh doanh, các chính sách ưu đãi đầu tư, nâng cao chất lượng NNL…[64]. Khai thác một khía cạnh khác của tăng cường thu hút vốn đầu tư, Nguyễn Van Dũng (2014) lại hướng tới khu vực miền núi, dân tộc thiểu số. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu thứ cấp được thu thập hàng năm về tình hình thu hút vốn đầu tư ở khu vực ít lợi thế cạnh tranh này, tác giả đã đánh giá ảnh hưởng của vốn đầu tư tới phát triển KT-XH. Từ đó, tác giả cũng lý giải những nguyên nhân gây khó 14 khăn trong thu hút vốn đầu tư ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi và khẳng định vai trò của thu hút vốn đầu tư như động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khu vực này.
Những giải pháp đưa ra khá tương đồng với các nghiên cứu khác như cần cải thiện môi trường đầu tư, bổ sung các chính sách ưu đãi. Tuy nhiên, một giải pháp được cho là rất quan trọng cần thực hiện đầu tiên là CQĐP khu vực này cần phải đổi mới tư duy, thay đổi cách thức quản lý điều hành, cách tiếp cận phát triển KT-XH mới có thể thực hiện được những giải pháp khác để tăng cường thu hút vốn đầu tư [28]. Trong giới hạn nghiên cứu thực tiễn h p hơn là tại 1 tỉnh, Nguyễn Hồng Hà (2015) đã công bố công trình về các giải pháp tang cuờng huy đọng vốn đầu tu cho phát triển kinh tế xã họi tỉnh Trà Vinh. Cũng chọn phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm căn cứ để tác giả đưa ra giải pháp, khuyến nghị cho chính quyền tỉnh Trà Vinh nhằm thúc đẩy thu hút dòng đầu tư vào tỉnh như hoàn thi n kết cấu hạ tầng, có chính sách thue đất thích hợp, cải thi n chính sách thuế, tang cuờng xúc tiến thuong mại địa phuong, nang cao trình đọ dan trí và đào tạo nghề, bảo v moi truờng và thực hi n tốt vi c lien kết vùng [44]. Cũng nghiên cứu về tăng cường thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế, Nguyễn Van Bình (2017) lại phân tích thực tiễn tập trung vào khu vực biển, đảo Vi t Nam.