Chương 1 – Tổng quan: Trình bày lý do hình thành đề tài, từ đó xác định mục tiêu, ý nghĩa, phạm vi và bố cục của đề tài nghiên cứu. • Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày một số khái niệm liên quan đến dự án, sự thành công của dự án,… Từ đó đề xuất các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. • Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu, thang đo của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu, cách thiết kế và thu thập mẫu và phương pháp xử lý số liệu. • Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: Trình bày thống kê mô tả của mẫu thu thập được và các kết quả phân tích định lượng trong việc kiểm định thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết cùng các giả thuyết đề ra.
5 • Chương 5 – Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt lại những kết quả chính và đóng góp của đề tài nghiên cứu, đưa ra một số kiến nghị cũng như một số hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến dự án, một số nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến sự thành công của dự án, cơ sở lý thuyết, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết. KHÁI NIỆM Dự án Theo Verzuh (2003) thì một dự án được định nghĩa là công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất. Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc.
Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dữ án sẽ giải tán hoặc là di chuyển sang những dự án mới. Jacobs & Chase (2014) định nghĩa dự án là một chuỗi các công việc có liên quan đến nhau, thường đưa ra những kết quả trực tiếp và yêu cầu một khoảng thời gian cụ thể để thực hiện. Dự án là một quá trình các công việc, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thể hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách (Cao Hào Thi & Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004). Theo Nguyễn Quốc Ấn và ctg (2007) thì cho rằng dự án là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó trong một thời gian xác định.
Như vậy thì dự án không phải là một ý định hay phác thảo sơ bộ mà là một đề xuất có tính cụ thể và mục tiêu rõ ràng nhằm biến các cơ hội đầu tư thành những quyết định cụ thể. Đặc điểm của dự án và dự án sản xuất Mỗi dự án gồm có các đặc điểm sau (Cao Hào Thi & Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004): 7 • Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng. Thông thường người ta cố gắng lượng hóa mục tiêu thành ra các chỉ tiêu cụ thể. Dự án có thể được chia thành nhiều nhiệm vụ nhỏ hơn để thực hiện và các nhiệm vụ này phải được phối hợp và kiểm soát về thời gian, trình tự thực hiện, chi phí và kết quả.
Hơn nữa, một dự án cũng phải được phối hợp với các dự án khác trong cùng một tổ chức. Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể. Một dự án có thể được xem như là một “quá trình” để tạo ra sản phẩm mới, nhà máy mới, một hệ thống mới hay những kết quả cụ thể khác. Cả kết quả và quá trình – dự án – đều đòi hỏi việc quản lý hiệu quả.
Nếu chỉ có kết quả cuối cùng mà kết quả đó không phải là kết quả của một quá trình thì kết quả đó không được gọi là dự án. • Mỗi dự án đều có một thời hạn nhất định, nghĩa là có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Dự án được xem là một chuỗi hoạt động nhất thời. Tổ chức dự án mang tính chất tạm thời, được tạo dựng lên trong một thời hạn nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, sau đó tổ chức này sẽ giải tán hay thay đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới.
Nghĩa là mỗi dự án đều có một chu kỳ hoạt động. Một dự án thường trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, đó là: Khởi đầu dự án, triển khai dự án và kết thúc dự án. • Mỗi dự án đều sử dụng nguồn lực và nguồn lực này bị hạn chế. Nguồn lực gồm: nhân lực, nguyên vật liệu và ngân sách.
• Mỗi dự án đều mang tính chất độc đáo đối với mục tiêu và phương thức thực hiện dự án. Không có sự lặp lại hoàn toàn giữa các dự án. Theo Nguyễn Thanh Liêm và ctg (2009) thì một dự án có các đặc điểm sau: • Các dự án mặc dù có sự khác biệt rất lớn về quy mô, song đều có những điểm tương đồng là hướng đến nhưng mục tiêu là thành quả, thời gian và chi phí. • Do tính chất duy nhất của dự án, các chi tiết cụ thể về các sản phẩm hay kết quả của dự án chưa được xác định.
Do vậy, các thuộc tính của kết quả, hay 8 các tham số của dự án cần phải xác định dần dần. “Dần dần” ở đây có nghĩa là các thuộc tính sẽ được từng bước một qua các giai đoạn của dự án và “xác định” có nghĩa là các thuộc tính này sẽ được làm rõ một cách cẩn thận và thấu đáo. • Thực hiện dự án nghĩa là thực hiện một số công việc chưa từng được làm. Tính duy nhất có thể bắt nguồn từ các công việc chưa từng được làm trước đó hoặc một số các đặc điểm của sản phẩm hay dịch vụ làm cho nó trở nên khác biệt với các sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp đã từng sản xuất.
• Tính hữu hạn hàm ý rằng các dự án luôn có một thời điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi đã hoàn thành mục tiêu và được chuyển giao một cách hiệu quả cho tổ chức. Một dự án cũng có thể được kết thúc nếu khả năng dự án không thể đạt được các mục tiêu. Hữu hạn không có nghĩa là thời gian ngắn, cũng không có nghĩa là kết quả của dự án có tính chất hữu hạn mà trái lại các kết quả này khi đã được tích hợp vào tổ chức thì sẽ trở thành các hoạt động thường xuyên của tổ chức.
• Mỗi dự án là một hoạt động có thời hạn với kết quả được xác định. Dự án có thể được chia thành các nhiệm vụ nhỏ hơn phải hoàn thành. Dự án càng phức tạp thì nhiệm vụ càng phải có sự phối hợp chặt chẽ và kiểm soát các khía cạnh thời gian, thứ tự ưu tiên, chi phí và kết quả. Thông thường, chính dự án cũng phải phối hợp với các dự án khác trong tổ chức.
• Giống như mỗi thực thể sống, mỗi dự án đều trải qua các giai đoạn khác nhau từ lúc khởi đầu, phát triển tăng dần về quy mô, đạt đến đỉnh cao, sau đó bắt đầu suy giảm và cuối cùng là kết thúc. Một số dự án kết thúc và sau đó được tích hợp vào hoạt động của tổ chức mẹ, một số khác thì bị xóa bỏ. • Các dự án thường tương tác với các dự án khác đồng thời tương tác với các hoạt động thường xuyên của tổ chức mẹ. Môi quan hệ giữa các bộ phận chức năng của tổ chức (marketing, tài chính, sản xuất,…) là tương đối ổn định và đều đặn, nhưng tương tác giữa các dự án với các bộ phận chức năng thì thường có xu hướng thay đổi.
9 • Các dự án cạnh tranh với các các bộ phận chức năng về nguồn lực và nhân sự. Khi dự án tăng trưởng, sự đối đầu của những dự án với các dự án khác về nguồn lực cũng gia tăng. Ngoài ra, các thành viên trong nhóm dự án thường mâu thuẫn với nhau về nguồn lực và vai trò của người lãnh đạo trong việc giải quyết các vấn đề của dự án. Dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất là những dự án nhằm tạo ra các sản phẩm là tư liệu sản xuất hoặc tư liệu dùng phục vụ nhu cầu của chính nó và cho các ngành nghề khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải,… và cho nhu cầu đời sống của con người (Bùi Xuân Phong, 2006).
Quản lý dự án Jacobs & Chase (2014) cho rằng quản trị dự án là sự hoạch định, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát các nguồn lực bao gồm con người, trang thiết bị và nguồn nguyên liệu để thỏa mãn các ràng buộc về kỹ thuật, chi phí và thời gian thực hiện dự án. Theo Verzuh (2003) thì cho rằng quản lý dự án là một quá trình bao gồm các phương pháp, các công cụ và các khái niệm được xây dựng một cách đặc thù nhằm đảm bảo một dự án đáp ứng được các mục tiêu về chi phí, thời gian và chất lượng. Quản lý dự án là một quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định, đó là đạt được kết quả về kỹ thuật, tài chính và thời gian (Cao Hào Thi & Nguyễn Thúy Quỳnh Loan, 2004). Định nghĩa này xác định rõ ràng mục đích của dự án là đáp ứng yêu cầu và kỳ vọng của các nhóm hữu quan.
Do đó, một đòi hỏi cơ bản đối với nhà quản trị dự án là phải xác định rõ ai là đối tượng hữu quan và từ đó phân tích các yêu cầu kỳ vọng của họ để xác định phạm vi công việc và mục tiêu của dự án. 10 Theo Học Viện Quản Trị Dự Án Anh Quốc thì quản trị dự án là tổng thể các hoạt động từ hoạch định, kiểm soát và phối hợp một dự án từ lúc hình thành ý tưởng cho đến khi hoàn tất các công việc nhằm đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trong khuôn khổ về mặt thời gian, ngân sách và đáp ứng các yêu cầu về chất lượng (Nguyễn Thanh Liêm & ctg, 2009). Sự thành công của dự án Sự thành công của dự án được hiểu là sự đảm bảo mục tiêu đã đề ra về chất lượng, tiến độ, ngân sách, sự hài lòng của các bên liên quan,. Tuy theo quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về sự thành công của dự án.