ĐẶT VẤN ĐỀ Nghề Y là một nghề đặc biệt vì đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân [Lê Ngọc Trọng và cs, 1997], Như Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã nói: ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòi hỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, từng trải và kinh nghiệm nghề nghiệp mà mọi công việc dù nhỏ tới đâu đều liên quan đến tính mạng con người và hạnh phúc của mỗi gia đình[l 1]. Như Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị - Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: Nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt[ 1]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), nhân viên y tê (NVYT) là tât cả những con người tham gia vào hoạt động nâng cao sức khỏe. Nêu không có họ thì công tác phòng bệnh, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe không thể đáp ứng được nhu cầu của người dân.
Theo TCYTTG nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản tạo nên những thành tựu y tế[25]. Những nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra ràng, sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế như nghiên cứu của S.Bodur (2002) về sự hài lòng của tất cả các nhân viên chăm sóc sức khỏe tại 21 Trung tâm y tế của thành phố Konya, Thổ Nhỉ Kỳ cho biết tỷ lệ hài lòng rất thấp: 60%. Nguyên nhân là vì điều kiện làm việc, sự phân công công việc, chế độ, tiền lương và cơ hội học tập, phát triển[ 17]. Tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu về vấn đề này như nghiên cứu của tác giả Trần Quỵ và cộng sự về sự hài lòng đối với nghề nghiệp của trên 2.800 điều dưỡng đang làm việc tại các bệnh viện huyện, tỉnh và trung ương thuộc 12 tỉnh thuộc ba miền của Việt Nam[13].
Tràn Thị Châu nghiên cứu trên 987 điều dưỡng công tác tại 10 bệnh viện và 4 trung tâm y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh về sự hài lòng nghề nghiệp[8]. Những nghiên cứu trên, những yếu tố mà nhân viên y tế chưa thực sự hài lòng đối với công việc khác nhau tùy theo nghiên cứu, nhưng tập trung 2 vào lương và thu nhập; điều kiện làm việc; cơ hội học tập và phát triển; quan hệ với lãnh đạo và đồng nghiệp. ĐắkLắk là 1 trong 5 tỉnh Tây Nguyên với diện tích 13.125km2, dân số hơn 7, ,A ,, , .000 người và 44 dân tộc anh em sinh sông, tỷ lệ hộ nghèo chiêm 15%[ 10]. Hệ thống y tế của ĐắkLắk gồm 63 đơn vị.
Tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân là 5,4 và tỷ lệ TYT xã có Bác sỹ là 80%. So với cả nước thì tỷ lệ này chiếm 6,2% bác sỹ/ Ivạn dân và tỷ lệ TYT xã có bác sỹ là 70%[10],[2],[3],[4]. Bệnh viện nằm tại trung tâm Thành phố Buôn Ma Thuột, nơi có hệ thống y tế phát triển nhất tỉnh ĐắkLắk. Bệnh viện có quy mô 170 giường bệnh, gồm 23 khoa phòng, bộ phận.
Tổng số cán bộ viên chức: 245 (184 biên chế, 61 hợp đồng), trong đó có 59 bác sĩ, 10 Dược sỹ, 88 Y sỹ, điều dưỡng, 18 kỹ thuật viên. Hàng năm bệnh viện điều trị cho hơn 202.689 lượt bệnh nhân khám điều trị, trên 12.262 bệnh nhân nội trú.000 trường hợp cấp cứu và 3.332 trường hợp phẫu thuật loại 3 trở lên. Qua báo cáo hàng năm cho thấy đều có sự thiếu hụt về nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ có trình độ đại học và sau đại học[7]. Tại ĐắkLắk chưa có một nghiên cứu nào để chỉ ra được sự hài lòng của NVYT, đặc biệt về sự hài lòng đối với công việc của toàn bộ nhân viên bệnh viện, bao gồm cả ngoài lực lượng chính là những nhân viên y tế trực tiếp phụ trách công tác khám chữa bệnh (bác sỹ, điều dưỡng) mà cần có những nhân viên phụ trách công tác hậu cần, hỗ trợ cho việc điều trị, chăm sóc người bệnh, đó là những người làm công tác văn phòng, kế toán, hộ lý, tài xể, công nhân điện, bảo vệ.
Cho nên sẽ bất hợp lý nếu nhà quản lý bệnh viện đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên bệnh viện mà chỉ tập trung vào nhóm đối tượng chính (bác sỹ, điều dưỡng). Nhằm giúp cho các nhà quản lý có những giải pháp để quản lý và thu hút nguôn nhân lực y tê, chúng tôi tiên hành nghiên cứu: “Đánh giá sự hài lòng và môi liên quan đoi với công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Tp.Buôn Ma Thuật tỉnh ĐắkLắk năm 2012”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu cụ thề 1. Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh ĐắkLắk năm 2012.
Xác định một số mối liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa Tp.Buôn Ma Thuột tỉnh ĐắkLắk năm 2012. TỎNG QUAN NGHIÊN cửu 1. Khái niệm về bệnh viện Theo quan niệm cũ, bệnh viện được coi như là nhà tế bần cứu giúp người những nghèo khổ, giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ốm người yếu và nghèo. Ngày nay, bệnh viện được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, đào tạo các hoạt động chăm sóc sức khỏe và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), bệnh viện là một bộ phận của một tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế bao gồm chữa bệnh và phòng bệnh. Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội[25]. Trong thời gian gần đây, bệnh viện được coi là một loại hình tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là nơi chẩn đoán, chữa trị bệnh tật và cũng là nơi hồi phục sức khỏe.
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển một cách mạnh mẽ, nhiều ứng dụng được đưa vào phục vụ cho y học. Nhận thức của người dân về chăm lo và bảo vệ sức khỏe ngày càng cao. Họ muốn được cung cấp các dịch vụ y tể không chỉ trong khuôn khổ bệnh viện mà còn ở ngay tại gia đình. Vì vậy, bệnh viện là cơ sở y tế phục vụ cho cụm dân cư bao gồm: giường bệnh, đội ngũ cán bộ có kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị, cơ sở hạ tầng phục vụ người bệnh.
Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện Theo Quyết định số 1895 ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế quy định chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện bao gồm[5]: 1. Cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh: 1. Đào tạo cán bộ y tế 1. Nghiên cứu khoa học về y học 1.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật 1. Phòng bệnh 1. Hợp tác kinh tế y tế 5 1. Tổ chức bệnh viện Bệnh viện đa khoa được chia làm 3 hạng: Bệnh viện đa khoa hạng I là cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc ƯBND tỉnh, thành phố và các ngành.
Bệnh viện đa khoa hạng II là cơ sở khám chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các huyện trong tỉnh và các ngành. Bệnh viện đa khoa hạng III là cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố và các ngành (Bộ Y tế, 1997). Tổ chức của bệnh viện được chia thành các khoa/phòng, sổ lượng các khoa/phòng ít dân theo hạng bệnh viện. Sau đây là ví dụ vê tô chức bệnh viện đa khoa hạng I với đầy đủ các khoa/phòng[5].
Các phòng chức năng 1. Phòng kế hoạch tổng hợp 4. Phòng hành chính quản trị 2. Phòng tổ chức cán bộ 3.
Phòng vật tư-thiết bị y tế 6. Phòng tài chính kế toán Nguồn: Quy chế bệnh viện 1997. Các khoa chuyên môn 1. Khoa khám bệnh 16.
Khoa Răng - Hàm - Mặt 2. Khoa hồi sức cấp cứu 17. Khoa Nội tổng hợp 18. Khoa vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng 4.
Khoa Nội tim mạch - Lão học 19. Khoa Ung bướu (điều trị tia xạ) 5. Khoa Truyền nhiễm 20. Khoa Huyết học truyền máu 6.
Khoa hoá sinh 7. Khoa Da liễu 22. Khoa Vi sinh 8. Khoa thần kinh 23.
Khoa Chẩn đoán hình ảnh 9. Khoa Tâm thần 24. Khoa Thăm dò chức năng 10. Khoa Y học cổ truyền 25.
Khoa Nội soi 11. Khoa giải phẫu bệnh 12. Khoa Ngoại tổng hợp 27. Khoa Chống nhiễm khuẩn 13.
Khoa phẫu thuật 28. Khoa Phụ sản 29. Khoa Dinh dưỡng 15. Khoa Tai - Mũi - Họng Nguồn: Quy chế bệnh viện 1997.
Tiêu chuẩn xếp hạng BV Thực hiện theo Thông tư 23/2005/TT-BYT ngày 25 tháng 8 năm 2005 của Bộ Y tế về hướng dẫn xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế[6]. Bao gồm 5 nhóm: 1. Nhóm tiêu chuẩn I: VỊ trí, chức năng và nhiệm vụ: 10 điểm 2. Nhóm tiêu chuẩn II: Quy mô và nội dung hoạt động: 20 điểm 3.
Nhóm tiêu chuẩn III: Cơ cấu lao động và trình độ cán bộ: 30 điểm 4. Nhóm tiêu chuẩn IV: Khả năng chuyên môn kỹ thuật, 20 điểm hiệu quả chất lượng công việc 5. Nhóm tiêu chuẩn V: Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị: 20 điểm 1. Bệnh viện Hạng I: phải đạt từ 90 điểm trở lên và thỏa mãn các điều kiện bắt buộc như qui định tại mục 4 phần B dưới đây đối với BV Hạng I 2.
Bệnh viện Hạng II: phải đạt từ 70 đến dưới 90 điểm và thỏa mãn các điều kiện bắt buộc 2. như qui định tại mục 4 phần B dưới đây đối với BV Hạng II 3. Bệnh viện Hạng III: phải đạt từ 40 đến dưới 70 điểm 4. Bệnh viện Hạng IV: dưới 40 điểm 5.
Bệnh viện Hạng đặc biệt: những BV Hạng I đạt 100 điểm và thỏa mãn các tiêu chuẩn xếp hạng đặc biệt 1.