ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là vốn quí của con người, là món hàng vô giá không gì có thể so sánh bằng và bệnh viện luôn là một trong những thành phần quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc, bảo vệ vốn quí đó. Một trong những mục tiêu phát triển bền vững của WHO đến 2030: Mọi người trên toàn cầu nhận phải nhận được dịch vụ sức khỏe có chất lượng [51]. Do vậy, tất cả các bệnh viện dù công hay tư cũng đều thực hiện những hoạt động cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu phục vụ và bảo vệ sức khỏe cho mọi người. Bởi một lẽ chất lượng dịch vụ là thước đo sự phát triển của bệnh viện và cũng là cơ sở cho sự cạnh tranh trong thị trường chăm sóc sức khỏe [34].
Nếu được chọn lựa nơi để gởi gắm và tin tưởng trong chăm sóc sức khỏe, khách hàng sẽ chọn lựa cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng. Chất lượng ở đây cần đáp ứng hai tiêu chí (1) thỏa mãn sự mong đợi của khách hàng, (2) họ sẵn sàng thanh toán chi phí cho mức độ chất lượng đó [20]. Trước đây khi đề cập đến chất lượng khám chữa bệnh của một bệnh viện, người ta thường nghĩ đến chất lượng chuyên môn, ít ai nghĩ đến các khía cạnh khác như thái độ phục vụ của nhân viên y tế, cơ sở vật chất, quy trình khám chữa bệnh, nhưng ngày nay với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người ngày càng cao, người bệnh - khách hàng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ [45]. Trong những năm gần đây đời sống vật chất, tinh thần thoải mái, ý thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân ngày càng cải thiện.
Tâm lý “có bệnh mới lo chữa trị” đang dần được xóa bỏ và thay thế bằng những thói quen tích cực hơn, chủ động trong thăm khám và điều trị bệnh tật [22]. Ngoài việc chọn các cơ sở y tế tư nhân nơi cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng chức năng tốt hơn, để thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe một số người bệnh có điều kiện sẵn sàng ra nước ngoài để khám và điều trị. Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 40.000 người ra nước ngoài khám và chữa bệnh với chi phí hơn 2 tỷ USD[11]. Càng ngày người dân càng ý thức cao hơn trong việc chăm sóc sức khỏe nên việc chọn lựa khám chữa bệnh tại các bệnh viện tiêu chuẩn quốc tế là xu hướng tất 2 yếu, nhất là với những người bệnh có điều kiện về tài chính.
Chất lượng dịch vụ bệnh viện là mấu chốt quan trọng cho việc giữ chân khách hàng trong nước có nhu cầu chăm sóc chất lượng cao và sự cạnh tranh giữa các bệnh viện cả hai khối công lập và ngoài công lập. Tại hội nghị về cải tiến chất lượng dịch vụ bệnh viện của Cục khám chữa bệnh năm 2017, Thứ trưởng Bộ Y Tế Nguyễn Viết Tiến đã nhấn mạnh: Cải tiến chất lượng dịch vụ bệnh viện là nhằm đảm bảo an toàn người bệnh và là mục tiêu hàng đầu của các bệnh viện. Cải tiến chất lượng hay để người bệnh chọn bệnh viện khác là vấn đề phải quan tâm của các lãnh đạo bệnh viện [17]. Bệnh viện Phụ Sản MêKông là bệnh viện tư nhân hạng III chuyên về lĩnh vực sản phụ khoa và sơ sinh, nằm trên địa bàn quận Tân Bình, TP.
Số lượng khách hàng đến khám tại khoa Khám bệnh trong năm 2017 và 2018 lần lượt là 434.092[8], nhóm khách hàng trọng yếu là chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ họ luôn mong tìm được cho mình một nơi đáng tin cậy để gửi gắm, theo dõi sức khỏe trong lĩnh vực sinh sản gồm khám phụ khoa hay chăm sóc thai kỳ. Họ luôn đặt niềm tin vào chất lượng dịch vụ của bệnh viện. Đáp lại sự tin tưởng đó, Bệnh viện đã không ngừng cải tiến chất lượng về mọi mặt, nâng cao chất lượng dịch vụ để tăng sự hài lòng của khách hàng thu hút khách hàng đến khám và điều trị [6]. Nhằm tìm hiểu chất lượng dịch vụ Bệnh viện đã làm đáp ứng được sự mong muốn của khách hàng hay chưa, chúng tôi thực hiện đề tài: “Chất lượng dịch vụ Bệnh viện Phụ sản MêKông qua cảm nhận của khách hàng ngoại trú năm 2019”.
Từ nghiên cứu này, có thể góp phần giúp bệnh viện có những hoạt động thiết thực trong việc cải tiến chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe đúng định hướng. Nâng tầm chất lượng dịch vụ bệnh viện thỏa mãn nhu cầu chăm sóc chất lượng cao cho khách hàng tại địa phương và các tỉnh lân cận, hướng tới mục tiêu an toàn cho người bệnh và cho cộng đồng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Đánh giá chất lượng dịch vụ của Bệnh viện Phụ sản MêKông qua cảm nhận của khách hàng ngoại trú năm 2019.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của Bệnh viện Phụ sản MêKông năm 2019. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về chất lượng Có nhiều cách khác nhau định nghĩa về chất lượng. Chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu người sử dụng. Môt sản phẩm hay môt dịch vụ được gọi là chất lượng khi nó đạt được những chuẩn cao nhất không có sự cẩu thả và lừa dối [49].
Ngoài ra, chất lượng còn được xem là sự vượt trội (hay sự xuất sắc); là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không sai sót); là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu của khách hàng); là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đánh giá để đầu tư) [50].2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng dịch vụ: dịch vụ là dành phục vụ cho khách hàng, vì vậy chất lượng dịch vụ nhìn từ góc độ khách hàng được các nhà quản lý rất quan tâm. Parasuraman và cộng sự (1985) đã đưa ra khái niệm về CLDV và cho rằng CLDV là khoảng cách giữa cảm nhận và mong đợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ [42]. Trong khi đó, Cronin và Taylor (1992) thì CLDV được xem là mức độ cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ, chất lượng dịch vụ là yếu tố dẫn đến sự hài lòng khách hàng [23]. Theo Gronroos (1993) cũng đưa ra định nghĩa về CLDV gồm 2 yếu tố của chất lượng dịch vụ đó: (1) chất lượng kỹ thuật và (2) chất lượng chức năng.
Trong đó chất lượng chức năng được xem là quá trình của dịch vụ và chất lượng kỹ thuật được xem là kết quả của dịch vụ [53].3 Khái niệm về chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là một khái niệm rất khó khăn để định nghĩa và đo lường vì đặc tính của chăm sóc sức khỏe thì vô hình và không đồng nhất. CLDV được xác định là việc cung cấp các dịch vụ sức khỏe hiệu quả theo các hướng dẫn, 5 tiêu chuẩn tốt nhất để thỏa mãn được nhu cầu của người bệnh và người cung cấp dịch vụ [54]. Theo Schuster và cộng sự, chất lượng dịch vụ sức khỏe tốt có nghĩa là “cung cấp cho người bệnh những dịch vụ phù hợp theo cách thành thạo về kỹ thuật, tốt về giao tiếp, chia sẻ những quyết định điều trị và tôn trọng về vấn đề văn hóa của khách hàng”[35]. Mosadeghrad định nghĩa “Dịch vụ sức khỏe chất lượng là những dịch vụ sức khỏe hiệu quả, hoàn hảo cung cấp cho người bệnh, phù hợp theo những tiêu chuẩn, hướng dẫn chuyên môn mới nhất.
CLDV làm cho người cung cấp và người sử dụng dịch vụ đều thỏa mãn” [29] WHO định nghĩa về chất lượng dịch vụ chăm sóc: là việc mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến tận từng người dân và bệnh nhân cải thiện được những kết quả sức khỏe mong đợi. Để đạt được điều này chất lượng chăm sóc người bệnh phải an toàn, hiệu quả, kịp thời, tiết kiệm, công bằng và lấy người bệnh là trung tâm [55]. Các công cụ đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nhiều công cụ đo lường chất lượng chất lượng dịch vụ đã được xây dựng và phát triển như: Gronroos (1984), Parasuraman và cộng sự. (1988), Cronin và Taylor (1992), Sower và cộng sự (2001) với thang đo KQCAH.
Mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ của Gronroos (1984) Theo quan điểm của Gronroos, mô hình chất lượng dịch vụ dựa trên hai khía cạnh: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kĩ thuật mô tả dịch vụ và chất lượng dịch vụ mà khách hàng nhận được. Chất lượng chức năng mô tả cách thức cung cấp dịch vụ để khách hàng nhận được kết quả chất lượng kĩ thuật [53]. Tuy vậy, Phan Chí Anh cho rằng mô hình này không trình bày cụ thể cách thức để đo lường chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng [3].
Hơn nữa, mô hình này đánh giá chất lượng dịch vụ bằng sự so sánh giữa giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi 6 sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ. Việc không thuận tiện khi sử dụng thang đo này đối với dịch vụ sức khỏe là khó đo lường chính xác sự kỳ vọng của khách hàng trước khi sử dụng dịch vụ. Mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1988) Để đánh giá chất lượng dịch vụ, Parasuraman và cộng sự (1985) đã đưa ra mô hình SERVQUAL: khoảng cách giữa sự mong đợi và nhận thực của khách hàng sau trải nghiệm sẽ phản ánh được chất lượng dịch vụ. Mô hình SERVQUAL rút gọn sử dụng 22 câu hỏi đánh giá cảm nhận của khách hàng về CLDV có 5 đặc tính chất lượng dịch vụ (tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm và phương tiện hữu hình).
Vì cần có sự so sánh giữa sự kỳ vọng và cảm nhận sau trải nghiệm dịch vụ nên khách hàng phải trả lời hai lần trong cuộc khảo sát trên cùng một bộ câu hỏi. Đây là mô hình được dùng rộng rãi để đo lường chất lượng dịch vụ trong nhiều lãnh vực khác nhau vì đo lường được các khoảng cách giữa các cấp độ và chỉ ra được các yếu tố tác động trên từng khoảng cách, dễ dàng cho sự can thiệp, khắc phục những yếu tố không thuận lợi [42]. Tuy nhiên, sự mong đợi của khách hàng về chất lượng dịch vụ rất cao và thường cao hơn so với chi phí mà họ sẽ chi trả sau khi trải nghiệm dịch vụ.