Chương 1 là phần giới thiệu tổng quan về đề tài, bối cảnh chính sách, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2 đề cập tới nhu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế công tại Tp. HCM và nêu ra các bằng chứng cụ thể. Chương 3 phân tích chi tiết tiến trình thực hiện CPH và những vấn đề còn vướng mắc, đặc biệt tập trung vào nghiên cứu trường hợp BV Bình Dân.
Chương 4 nêu ra ý nghĩa chính sách trên cơ sở những phân tích ở các chương trước. Phần cuối cùng của luận văn là kết luận. 123doc 4 CHƯƠNG 2: Nhu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế công tại Tp. Bản chất của dịch vụ y tế Từ góc độ kinh tế học thuần túy, về bản chất, dịch vụ y tế là hàng hóa tư.
Sở dĩ như vậy là vì nếu không có sự can thiệp của chính phủ, dịch vụ y tế có đủ hai thuộc tính: tính tranh giành và tính loại trừ. Thứ nhất, về thuộc tính tranh giành, khi có thêm 1 bệnh nhân mới đến khám chữa bệnh thì chi phí biên phục vụ cho việc này là một con số dương (chi phí trả lương cho y bác sỹ, chi phí xét nghiệm, chi phí chữa bệnh…). Khi có thêm một bệnh nhân thì hệ thống chăm sóc y tế có thêm một mối quan tâm, BV buộc phải tạo thêm một không gian để cung cấp dịch vụ cho người đó, xã hội thêm một khoản đầu tư… Xét trên phương diện lợi ích, một bệnh nhân cần được khám và điều trị sẽ làm giảm lợi ích của một bệnh nhân khác. Như vậy, rõ ràng dịch vụ y tế có tính tranh giành.
Thứ hai, dịch vụ y tế có thuộc tính loại trừ. Dịch vụ này có thu phí (khám chữa bệnh thì phải nộp viện phí và nhiều chi phí có liên quan khác) nên không phải ai cũng có thể dễ dàng tiếp cận dịch vụ. Việc thu phí đã cản trở một số nhóm đối tượng nhất định (đặc biệt là những có thu nhập thấp) tiếp nhận lợi ích của dịch vụ y tế - họ buộc phải trả tiền để được hưởng lợi. Mặc dù theo phân tích ở trên, dịch vụ y tế là hàng hóa tư nhưng dịch vụ này được nhiều nhà nước trên thế giới cung cấp cho nhân dân như một hàng hóa công không thuần túy do nhiều nguyên nhân xuất phát từ thất bại thị trường như: ngoại tác tích cực, thông tin bất cân xứng, y tế là hàng hóa thiết yếu, nhu cầu đảm bảo công bằng xã hội.
Việt Nam nói chung và Tp. HCM nói riêng cũng không phải là ngoại lệ. Dịch vụ y tế được nhà nước cung cấp trước hết là do ngoại tác tích cực của nó. Trợ cấp và đặt dưới cơ chế quản lý công đối với dịch vụ y tế thường tạo ra lợi ích lớn hơn chi phí do bên cạnh lợi ích trực tiếp của cá nhân một bệnh nhân, y tế tốt còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội.
Ví dụ: Khi một người được chăm sóc sức khỏe 123doc 5 đảm bảo thì sẽ dễ kiếm được việc làm và làm việc tốt hơn. Đặc biệt đối với các trường hợp lao động trong ngành nông nghiệp hoặc các ngành lao động phổ thông thì sức khỏe là điều kiện tiên quyết để đảm bảo khả năng lao động. Điều này sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo, làm giảm gánh nặng cho xã hội cũng như tác động đến nhiều yếu tố khác. Ngoài ra, dịch vụ y tế được cung cấp như một hàng hóa công còn vì tình trạng thông tin bất cân xứng giữa bệnh nhân và bác sỹ.
Trong việc sử dụng dịch vụ y tế, bác sỹ luôn luôn ở vị thế nắm được nhiều thông tin hơn bệnh nhân về loại bệnh tật, mức độ nặng nhẹ, nhu cầu điều trị… Nếu không phải là một hàng hóa công, dịch vụ y tế có khả năng gây ra lựa chọn ngược, tức là thay vì cung cấp điều trị tốt nhất cho bệnh nhân, bác sỹ lại trì hoãn hoặc kéo dài quá trình điều trị nhằm mục tiêu trục lợi cho cá nhân mình. Hơn thế nữa, y tế được xếp vào loại hàng hóa thiết yếu. Những người có bệnh chắc chắn sẽ chết hoặc sống trong đau đớn nếu họ không được khám và điều trị. Điều này vi phạm nghiêm trọng một trong những quyền cơ bản của con người là được bảo vệ an toàn về tính mạng, sức khỏe và cuộc sống.
Mặt khác, chính phủ quản lý và trợ cấp cho dịch vụ y tế là nhằm thúc đẩy việc sử dụng dịch vụ này như một cách thức góp phần đảm bảo tính công bằng xã hội. Nếu dịch vụ y tế không được cung ứng rộng rãi và dễ dàng, hay nếu chi phí của dịch vụ y tế quá cao, như đã trình bày ở trên, một số nhóm đối tượng nhất định (những người có thu nhập thấp, dân tộc thiểu số…) không thể tiếp cận dịch vụ này. Trách nhiệm đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội của chính phủ còn liên quan trực tiếp đến tình hình an ninh chính trị, nhất là tại quốc gia theo đuổi con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) như Việt Nam hiện nay. Như vậy, có thể thấy được rằng nhà nước hoàn toàn có cơ sở trong việc cung cấp dịch vụ y tế dưới hình thức là một hàng hóa công.
Cơ sở này chính là những thất bại hiển nhiên của thị trường như vừa phân tích ở trên. Thất bại của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ y tế Dịch vụ y tế tại Tp. HCM hiện nay được nhà nước cung cấp dưới hình thức một hàng hóa công không thuần túy dựa trên cơ sở là sự thất bại của thị trường đối với loại hàng hóa này. Tuy nhiên, nhìn vào các con số và thực trạng, người ta có thể thấy được sự thất bại của nhà nước trong việc đảm bảo chất lượng của dịch vụ đó.
Theo giới nghiên cứu y tế, chất lượng BV được đánh giá theo nhiều tiêu chí, bao gồm: dịch vụ chuyên môn (y khoa, điều dưỡng, thiết bị); sự đáp ứng của hệ thống cấp cứu khi có sự cố; thực phẩm cho bệnh nhân; môi trường BV (bàn ghế, tủ, giường, ánh sáng); tiện nghi phòng (sự riêng tư, giờ thăm bệnh, mức độ thuận tiện); và phục vụ cá nhân (tính riêng biệt, thông tin, sự chú ý đến nhu cầu cá nhân)… Các khía cạnh này có thể phát triển thành những “chỉ tiêu” cụ thể để đo lường chất lượng BV. Nếu xét về mặt nghiên cứu kinh tế đơn thuần, chất lượng dịch vụ y tế có thể được đo lường thông qua một số chỉ số cơ bản như: - Mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh; - Tỷ lệ các ca bệnh được phát hiện và chữa khỏi so với tỷ lệ tại các quốc gia khác trên thế giới; - Thời gian điều trị các bệnh phổ biến so với thời gian điều trị tại các BV quốc tế; - Chi phí khám chữa bệnh trung bình so với chi phí tương ứng tại các hệ thống y tế khác; - Khả năng và mức độ kiểm soát các dịch bệnh mãn tính (HIV và AIDS, sốt rét…) và cấp tính (SARS, tiêu chảy cấp, cúm H5N1…) - Chi phí điều trị và hỗ trợ y tế đối với các đối tượng dễ bị tổn thương (người nghèo, người có HIV, người nhiễm lao…) Tuy nhiên, do khuôn khổ của luận văn có hạn nên bài viết này không thể phân tích cụ thể từng chỉ số nhằm chứng minh mức độ thất bại của việc cung cấp dịch vụ y tế tại Tp. Bài viết chỉ tập trung vào hai bằng chứng dễ thấy nhất là mức độ 123doc 7 quá tải của các BV công và khả năng quản lý yếu kém của các cơ quan chức năng của nhà nước đối với các dịch vụ này. Trước hết, dịch vụ y tế tại các BV công trong thành phố hiện nay đang phải đối mặt với mức độ quá tải nghiêm trọng.
Nguồn lực, trong đó bao gồm cả cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, của BV không tương xứng với nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Cụ thể, tốc độ phát triển các BV cũng không tăng cùng mức với tốc độ tăng của nhu cầu (đặc biệt là trong điều kiện các bệnh tật phát triển mạnh mẽ như hiện nay). Theo như đường xu hướng trong đồ thị 2.1 bên dưới, ta có thể dễ dàng thấy được tỷ lệ số bệnh nhân nội trú trung bình một ngày trên số giường bệnh tại Tp. HCM luôn duy trì ở mức lớn hơn 1 1.
Điều này có nghĩa là tính trung bình tại một thời điểm, một giường bệnh luôn có nhiều hơn một người bệnh sử dụng. Như vậy tức là mức độ sử dụng giường bệnh luôn luôn vượt quá mức cho phép. Tình trạng này cũng dễ nhận thấy trong thực tế. Khi đến các BV chuyên khoa trong Tp, tình trạng hai thậm chí ba bệnh nhân cùng sử dụng chung một giường bệnh đơn là rất phổ biến.
1 Tham khảo số liệu tuyệt đối tại Phụ lục 1 123doc 8 Số bệnh nhân nội trú trung bình một ngày/số giường bệnh 1. Số bệnh nhân nội trú trung bình một ngày/số giường bệnh tại thành phố Hồ Chí Minh (Ghi chú: Tính toán từ số bệnh nhân điều trị nội trú trung bình một ngày và số giường bệnh trong Số liệu thực hiện chuyên môn từ năm 2000-2006, Sở y tế Tp. HCM [15]) Bên cạnh đó, tại các nước phát triển trên thế giới, một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng an sinh xã hội là tỷ lệ bác sỹ và nhân viên y tế tăng (hoặc ít nhất là không giảm) so với tỷ lệ người có nhu cầu khám chữa bệnh. Trong khi đó, tại Tp.
HCM, tỷ lệ số lượt khám chữa bệnh trên số bác sỹ lại ngày càng tăng. Theo như đồ thị 2.2 bên dưới, tỷ lệ này tại các BV công tại TP. HCM tăng liên tục từ năm 2000 đến năm 2006 và chỉ giảm đôi chút trong 20032. Mặc dù số nhân lực y tế tại các BV đóng vai trò tương đối quan trọng song số liệu phản ánh chính xác nhất là số lượng bác sỹ.
Nếu nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng nhưng số bác sỹ tại các BV thiếu hụt hoặc không tăng theo cùng một tỷ lệ tương ứng thì dịch vụ y tế tất 2 Tham khảo số liệu tuyệt đối tại Phụ lục 2 123doc 9 yếu không đủ khả năng đáp ứng theo nhu cầu. Số liệu trong đồ thị 2.2 cũng phần nào phản ánh tình trạng cung không đáp ứng đủ cầu như vừa phân tích ở trên. Tỷ lệ số lượt khám chữa bệnh/số bác sỹ 7. Tỷ lệ số lượt khám chữa bệnh/số bác sỹ tại Tp.