Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Da liễu Trung ương Chương 4:Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Da liễu Trung ương 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trước năm 2000, hầu hết các bệnh viện hoạt động theo cơ chế đơn vị hưởng Ngân sách Nhà nước với một phần ngân sách thu từ viện phí. Theo cơ chế bao cấp, NSNN cấp cho bệnh viện được chi cho đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị (chi phát triển) và các khoản chi phí trực tiếp cho dịch vụ khám chữa bệnh (chi thường xuyên). Các bệnh viện có vai trò vừa là người cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh vừa là người hoàn trả chi phí dịch vụ đã cung cấp.
Từ năm 2000 trở lại đây,các bệnh viện công lập đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ chế tài chính qua việc triển khai thực hiện các chủ trương “xã hội hóa” và giao quyền tự chủ tài chính. Quá trình chuyển đổi này vẫn chưa chấm dứt, song đã bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ. Thực hiện cơ chế tự chủ đã góp phần nâng cao tính năng động của các đơn vị, huy động nguồn lực và mở rộng dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng. Tới nay, gần 100% bệnh viện trung ương và 70% bệnh viện tỉnh, huyện thực hiện tự chủ, trong đó có 4 đơn vị trung ương thực hiện tự chủ toàn bộ chi phí thường xuyên, số còn lại tự chủ một phần.
“Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh viết năm 2013. Tác giả bài viết đã phân tích và đánh giá cơ chế quản lý trong ngành y tế nói riêng, cụ thể là Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh trong xu huớng chuyển sang nền kinh tế thị truờng xã hội chủ nghĩa và chủ truơng xã hội hoá dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp công ở Việt Nam không còn đơn thuần là thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nứoc giao cho mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụ 4 z cho xã hội. Nguồn tài chính của các đơn vị này không chỉ do Ngân sách Nhà nứoc cấp mà từng đơn vị khai thác thêm từ các dịch vụ cung ứng cho xã hội.
Từ thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/Nđ- Cp của bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện như sau: (1) Nhóm giải pháp nâng cao năng lực quản lý tài chính cũng như ý thức trách nhiệm trong cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho nhân viên. (2) Nhóm giải pháp mở rộng các loại hình dịch vụ, dịch vụ yêu cầu đáp ứng nhu cầu đa dạng của ngưòi dân. (3) Mở rộng hợp tác quốc tế. “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ” Luận văn thạc sỹ của tác giả Đinh Thị Kim Oanh viết năm 2014.
Từ vịêc phân tích và đánh giá tình tình thực hiện tự chủ tài chính trong giai đoạn 2009-2013, tác giả đề xuất một số nhóm giải phảp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính như sau: (1) Nâng cao nhận thức về tự chủ tài chính. (2) Đa dạng hoá nguồn thu cho bệnh viện. (3) Tăng cường quản lý nâng cao hiệu quả các khoản chi. (4) Hoàn thiện cơ chế trả luơng và phân phối thu nhập.
(5) Giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát tài chính. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nuớc, đơn vị chủ quản và Bệnh viện. Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp rất lớn trong việc hoàn thiện lý luận cơ bản về hoàn thiện cơ chế tài chính tại đơn vị sự nghiệp y tế có thu. Nội dung các công trình nghiên cứu, nghiên cứu các đối tuợng khác nhau, tuy nhiên đều đưa ra các vấn đề lý luận cơ bản nhất về tự chủ tài chính, thực trạng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các các bệnh viện tuyến tỉnh mà chưa đề tài nào nghiên cứu về tự chủ tài chính tại bệnh viện tuyến Trung uơng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Đơn vị sự nghiệp 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin truyền thông và báo chí, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.
Theo Quy định và Nghị định của Nhà nước về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thì ĐVSN được xác định bởi các tiêu thức cơ bản sau: - Có văn bản quyết định thành lập ĐVSN của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương. - Hoạt động cung cấp các dịch vụ công trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa thể dục thể thao. - Được Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ, chuyên môn được giao. - Có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp Thứ nhất: ĐVSN là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, 6 z duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường, nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ hai: Sản phẩm của các ĐVSN mang tính lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội…Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của ĐVSN có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành, một lĩnh vực nhất định mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa, truyền tiếp. Thứ ba: Hoạt động sự nghiệp của các ĐVSN luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước.
Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia như: Chương trình xóa mù chữ, chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình,…Những chương trình, mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước - với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả. Thông qua việc duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình phát triển kinh tế xã hội nhằm mang lại lợi ích cho người dân. Phân loại đơn vị sự nghiệp Hoạt động của ĐVSN trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động - ĐVSN trong lĩnh vực giáo dục đào tạo - ĐVSN trong lĩnh vực y tế (bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân) - ĐVSN văn hóa, thông tin - ĐVSN phát thanh truyền hình - ĐVSN dân số - trẻ em, kế hoạch hóa gia đình - ĐVSN thể dục, thể thao - ĐVSN khoa học công nghệ, môi trường - ĐVSN kinh tế (duy tư, sửa chữa đê điều, trạm trại) - ĐVSN khác * Căn cứ vào cấp quản lý - ĐVSNCL ở trung ương như Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do các Bộ ngành, cơ quan ở Trung ương quản lý. - ĐVSNCL ở địa phương như Đài phát thanh truyền hình ở các địa phương, các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý. * Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp - Đơn vị sự nghiệp có thu: + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư (gọi là ĐVSN tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư): ĐVSN có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên và hoạt động đầu tư bằng hoặc lớn hơn 100%. 8 z + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm toàn bộ chi phí cho hoạt động thường xuyên (gọi là ĐVSN tự bảo đảm chi thường xuyên): ĐVSN có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%.
+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp bảo đảm một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (gọi là ĐVSN tự bảo đảm một phần chi thường xuyên): ĐVSN có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%.