Luận án về cải tiến tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện y học cổ truyền ở Hà Nội

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận án hoàn thiện tổ chức công tác kế toán các bệnh viện y học cổ truyền trên địa bàn thành phố hà, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

236
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, việc cải tiến công tác kế toán tại các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội, trở nên cấp thiết. Đảng và Chính phủ đã có nhiều chính sách đổi mới nhằm tăng cường năng lực hoạt động của ngành y tế. Những chính sách này không chỉ tạo ra hành lang pháp lý cho các đơn vị sự nghiệp công lập mà còn giúp giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Nhờ đó, ngành y tế đã đạt được nhiều thành tựu trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hệ thống quản lý tài chính y tế đã được kiện toàn, với nhiều cải cách trong việc cung cấp dịch vụ y tế. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định về kế toán vẫn còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến việc thu thập và xử lý thông tin tài chính. Do đó, việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán là cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong các bệnh viện.

1.1. Chính sách và khung pháp lý

Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết và quyết định nhằm khắc phục những khó khăn trong ngành y tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kế toán bệnh viện. Nghị quyết số 20/NQ-CP và Quyết định 1092QĐ/TTg đã tạo điều kiện cho các bệnh viện chủ động hơn trong việc quản lý tài chính. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện tại vẫn chưa hoàn thiện, dẫn đến việc áp dụng chế độ kế toán chưa đồng bộ giữa các bệnh viện. Điều này gây khó khăn trong việc quản lý chi phí y tếbáo cáo tài chính bệnh viện.

II. Thực trạng công tác kế toán tại bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội

Thực trạng công tác kế toán tại bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội cho thấy nhiều vấn đề tồn tại. Mặc dù đã có những cải tiến trong quy trình kế toán, nhưng việc áp dụng chế độ kế toán mới vẫn chưa đồng bộ. Các bệnh viện vẫn gặp khó khăn trong việc quản lý ngân sáchtính toán chi phí điều trị. Hệ thống công nghệ thông tin trong kế toán chưa được áp dụng hiệu quả, dẫn đến việc xử lý thông tin chậm và không chính xác. Việc tổ chức công tác kế toán cần được cải tiến để đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính trong bối cảnh tự chủ tài chính hiện nay.

2.1. Hạn chế trong tổ chức công tác kế toán

Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu đồng bộ trong việc áp dụng các quy định kế toán giữa các bệnh viện. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc so sánh và đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính. Hệ thống báo cáo tài chính chưa phản ánh đầy đủ tình hình tài chính của bệnh viện, ảnh hưởng đến việc ra quyết định của các nhà quản lý. Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, bao gồm việc đào tạo kế toán viên và áp dụng các phần mềm kế toán hiện đại.

III. Giải pháp cải tiến công tác kế toán

Để cải tiến công tác kế toán tại bệnh viện y học cổ truyền Hà Nội, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, cần hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán và quy trình báo cáo tài chính. Thứ hai, việc đào tạo kế toán viên cần được chú trọng để nâng cao năng lực chuyên môn. Cuối cùng, áp dụng công nghệ thông tin trong kế toán sẽ giúp tăng cường hiệu quả quản lý tài chính. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện công tác kế toán mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện.

3.1. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Đào tạo kế toán viên là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng công tác kế toán. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về kế toán bệnh việnquản lý tài chính y tế. Việc này sẽ giúp các nhân viên kế toán nắm vững các quy định và chuẩn mực kế toán mới, từ đó nâng cao hiệu quả công việc. Ngoài ra, cần có các chương trình đào tạo định kỳ để cập nhật kiến thức cho nhân viên kế toán.

25/01/2025
Luận án hoàn thiện tổ chức công tác kế toán các bệnh viện y học cổ truyền trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL. Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ba chƣơng này có mối quan hệ logic để thực hiện mục tiêu nghiên cứu.

12 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. Việt Nam cũng nhƣ bất cứ quốc gia nào, Nhà nƣớc luôn đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý và điều hành các mặt của đời sống kinh tế xã hội.

Để thực thi vai trò này, bộ máy quyền lực Nhà nƣớc bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tƣ pháp và các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, đoàn thể xã hội,. Trong đó, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nƣớc cao nhất. Chính phủ và bộ máy hành chính Nhà nƣớc là hệ thống các cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại theo đ ng chức năng, thẩm quyền theo luật định. Chính phủ có quyền hành rộng rãi và thực sự làm chủ quyền hành pháp trên toàn lãnh thổ quốc gia và chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân, đã hình thành nên các đơn vị sự nghiệp để thực thi quyền hành pháp của mình.

Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc, cụm từ “đơn vị HCSN” đƣợc hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội quần ch ng. Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các cơ quan nhà nƣớc (hay còn gọi là cơ quan hành chính) xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý của mình về kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển, đồng thời đã tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công lập. Theo tác giả thì cơ quan HCNN và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệt nhau về chức năng nhƣ sau: Cơ quan HCNN là các tổ chức do nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho ngƣời dân khi thực hiện chức năng quản lý của mình. Các cơ quan hành chính bao gồm: các tổ chức tham mƣu, hoạch định thể chế, chính sách và tổ chức thừa hành, thực thi pháp luật thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm các Vụ, Cục, Tổng cục, Thanh tra, Văn phòng Bộ và một số tổ chức có tên gọi khác); các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp t nh (gồm: các Sở, Thanh tra, Văn phòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác); các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện (bao gồm các Phòng, Thanh tra, Văn phòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác).

Đơn vị SNCL là các tổ chức do Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và thành lập để thực hiện cung cấp một số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các tổ chức sự nghiệp khác). Do vậy các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý nhà nƣớc mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công nhƣ y tế, văn hóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Vì vậy, hiện nay đơn vị SNCL thƣờng đƣợc định nghĩa khá giống nhau nhƣ: 13 Theo chế độ kế toán HCSN (2006) đơn vị HCSN là: Đơn vị do Nhà nƣớc quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nƣớc về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nƣớc giao cho từng giai đoạn. Trong đó, các cơ quan hành chính đƣợc hiểu là các tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, còn các đơn vị sự nghiệp đƣợc hiểu là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao,.

đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Theo Điều 1, Điểm 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị SNCL do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nƣớc” [16]. Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS số 6 và IPSAS số 22: Các đơn vị cung cấp dịch vụ công và các cơ quan quản lý nhà nƣớc bị kiểm soát bởi một đơn vị công đƣợc gọi chung là các đơn vị bị kiểm soát, ngoại trừ các đơn vị kinh doanh bằng vốn nhà nƣớc, tất cả các đơn vị bị kiểm soát còn lại đƣợc gọi là các đơn vị thuộc lĩnh vực công hoạt động dựa vào nguồn tài trợ của Chính phủ để duy trì cho hoạt động của các đơn vị đƣợc diễn ra liên tục. Nguồn tài trợ từ Chính phủ đối với các đơn vị công có thể là nguồn ngân sách hoặc phi ngân sách.

Nhƣ vậy, quan điểm này nhấn mạnh đơn vị công bao gồm cả cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp là các đơn vị đƣợc thành lập và đƣợc kiểm soát bởi Chính phủ. Theo tôi đây là khái niệm mang tính bao quát và tổng hợp hơn và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta hiện nay. Theo tác giả thì cơ quan nhà nƣớc và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệt nhau về chức năng nhƣ sau: - Cơ quan nhà nước là các tổ chức do nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho ngƣời dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc của mình. Các cơ quan nhà nƣớc bao gồm : các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp t nh; các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

- Đơn vị SNCL là các tổ chức do Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập để thực hiện cung cấp một số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức thuộc các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các tổ chức sự nghiệp khác). Do vậy các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý nhà nƣớc mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công nhƣ y tế, văn hóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nhƣ vậy theo ch ng tôi, các đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách.

Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu đƣợc tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không đƣợc trả lại 14 trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà đƣợc thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị SNCL rất đa dạng do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, các đơn vị SNCL dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhƣng đều mang những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, mục đ ch hoạt động của các đơn vị SNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ch cộng đồng.

Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị SNCL tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trƣờng chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận nhƣ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nƣớc tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trƣờng trƣớc hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách ph c lợi công cộng khi can thiệp vào thị trƣờng. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho việc nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, th c đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân.

Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ch chung có t nh bền vững, lâu dài cho xã hội. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động SNCL tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng. Mặt khác sản phẩm của các hoạt động SNCL chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội. Hàng hoá công cộng có hai đặc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh (non-rival) và không loại trừ (non-excludable).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về cải tiến tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện y học cổ truyền ở Hà Nội" tập trung vào việc nâng cao hiệu quả công tác kế toán trong các bệnh viện y học cổ truyền, một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống y tế. Luận án này không chỉ phân tích thực trạng mà còn đề xuất các giải pháp cải tiến nhằm tối ưu hóa quy trình kế toán, từ đó giúp các bệnh viện quản lý tài chính tốt hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức tổ chức và cải tiến công tác kế toán trong môi trường y tế, điều này có thể áp dụng cho các cơ sở y tế khác.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của kế toán trong lĩnh vực y tế và quản lý tài chính, hãy tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về cải thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, nơi cũng đề cập đến việc cải tiến quy trình kế toán trong bệnh viện. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ: Cải tiến công tác kế toán tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam sẽ cung cấp thêm góc nhìn về các giải pháp cải tiến trong lĩnh vực này. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Bệnh viện Đa khoa huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum để có cái nhìn sâu sắc hơn về việc tổ chức kế toán tại các bệnh viện khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các phương pháp cải tiến trong công tác kế toán tại các cơ sở y tế.