Chương 1: Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán đơn vị SNCL. Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các bệnh viện YHCT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ba chƣơng này có mối quan hệ logic để thực hiện mục tiêu nghiên cứu.
12 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. Việt Nam cũng nhƣ bất cứ quốc gia nào, Nhà nƣớc luôn đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý và điều hành các mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Để thực thi vai trò này, bộ máy quyền lực Nhà nƣớc bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tƣ pháp và các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, đoàn thể xã hội,. Trong đó, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nƣớc cao nhất. Chính phủ và bộ máy hành chính Nhà nƣớc là hệ thống các cơ quan hành pháp, thống nhất quản lý việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại theo đ ng chức năng, thẩm quyền theo luật định. Chính phủ có quyền hành rộng rãi và thực sự làm chủ quyền hành pháp trên toàn lãnh thổ quốc gia và chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân, đã hình thành nên các đơn vị sự nghiệp để thực thi quyền hành pháp của mình.
Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc, cụm từ “đơn vị HCSN” đƣợc hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội quần ch ng. Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các cơ quan nhà nƣớc (hay còn gọi là cơ quan hành chính) xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý của mình về kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển, đồng thời đã tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp công lập. Theo tác giả thì cơ quan HCNN và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệt nhau về chức năng nhƣ sau: Cơ quan HCNN là các tổ chức do nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho ngƣời dân khi thực hiện chức năng quản lý của mình. Các cơ quan hành chính bao gồm: các tổ chức tham mƣu, hoạch định thể chế, chính sách và tổ chức thừa hành, thực thi pháp luật thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm các Vụ, Cục, Tổng cục, Thanh tra, Văn phòng Bộ và một số tổ chức có tên gọi khác); các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp t nh (gồm: các Sở, Thanh tra, Văn phòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác); các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện (bao gồm các Phòng, Thanh tra, Văn phòng Ủy ban nhân dân và một số tổ chức có tên gọi khác).
Đơn vị SNCL là các tổ chức do Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và thành lập để thực hiện cung cấp một số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các tổ chức sự nghiệp khác). Do vậy các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý nhà nƣớc mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công nhƣ y tế, văn hóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Vì vậy, hiện nay đơn vị SNCL thƣờng đƣợc định nghĩa khá giống nhau nhƣ: 13 Theo chế độ kế toán HCSN (2006) đơn vị HCSN là: Đơn vị do Nhà nƣớc quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nƣớc về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nƣớc giao cho từng giai đoạn. Trong đó, các cơ quan hành chính đƣợc hiểu là các tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, còn các đơn vị sự nghiệp đƣợc hiểu là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao,.
đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Theo Điều 1, Điểm 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thì “Đơn vị SNCL do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công phục vụ quản lý nhà nƣớc” [16]. Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS số 6 và IPSAS số 22: Các đơn vị cung cấp dịch vụ công và các cơ quan quản lý nhà nƣớc bị kiểm soát bởi một đơn vị công đƣợc gọi chung là các đơn vị bị kiểm soát, ngoại trừ các đơn vị kinh doanh bằng vốn nhà nƣớc, tất cả các đơn vị bị kiểm soát còn lại đƣợc gọi là các đơn vị thuộc lĩnh vực công hoạt động dựa vào nguồn tài trợ của Chính phủ để duy trì cho hoạt động của các đơn vị đƣợc diễn ra liên tục. Nguồn tài trợ từ Chính phủ đối với các đơn vị công có thể là nguồn ngân sách hoặc phi ngân sách.
Nhƣ vậy, quan điểm này nhấn mạnh đơn vị công bao gồm cả cơ quan nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp là các đơn vị đƣợc thành lập và đƣợc kiểm soát bởi Chính phủ. Theo tôi đây là khái niệm mang tính bao quát và tổng hợp hơn và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế xã hội ở nƣớc ta hiện nay. Theo tác giả thì cơ quan nhà nƣớc và đơn vị SNCL ch hai loại tổ chức khác biệt nhau về chức năng nhƣ sau: - Cơ quan nhà nước là các tổ chức do nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập để cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho ngƣời dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc của mình. Các cơ quan nhà nƣớc bao gồm : các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp t nh; các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
- Đơn vị SNCL là các tổ chức do Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập để thực hiện cung cấp một số dịch vụ công (bao gồm các tổ chức thuộc các lĩnh vực giáo dục đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, văn hoá - thông tin, thể dục - thể thao, lao động - xã hội và các tổ chức sự nghiệp khác). Do vậy các đơn vị SNCL không phải là cơ quan quản lý nhà nƣớc mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công nhƣ y tế, văn hóa, giáo dục,…đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Nhƣ vậy theo ch ng tôi, các đơn vị SNCL là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc. Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách.
Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu đƣợc tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không đƣợc trả lại 14 trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà đƣợc thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị SNCL rất đa dạng do nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, các đơn vị SNCL dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhƣng đều mang những đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, mục đ ch hoạt động của các đơn vị SNCL là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ch cộng đồng.
Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị SNCL tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trƣờng chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận nhƣ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nƣớc tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trƣờng trƣớc hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nƣớc trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách ph c lợi công cộng khi can thiệp vào thị trƣờng. Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho việc nâng cao dân trí, bồi dƣỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, th c đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân.
Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị SNCL là sản phẩm mang lại lợi ch chung có t nh bền vững, lâu dài cho xã hội. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động SNCL tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều ngƣời, cho nhiều đối tƣợng trên phạm vi rộng. Mặt khác sản phẩm của các hoạt động SNCL chủ yếu là các “hàng hóa công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình tái sản xuất xã hội. Hàng hoá công cộng có hai đặc tính cơ bản là không có tính cạnh tranh (non-rival) và không loại trừ (non-excludable).