CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Tổng quan về bệnh viện công lập 1. Khái niệm, đặc điểm bệnh viện công lập Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ, “Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác”. Theo Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ, “Đơn vị sự nghiệp y tế công lập” là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế)”.
Có rất nhiều quan điểm về Bệnh viện công lập, theo quan điểm hiện đại, Bệnh viện công là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau: - Là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liên quan chặt chẽ với nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc. - Là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữa bệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong. - Ngoài chức năng chủ yếu là KCB cho nhân dân, Bệnh viện công còn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế.
- Nguồn tài chính để Bệnh viện hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước. - Mục tiêu chủ yếu của Bệnh viện công mang tính chất phúc lợi, phi lợi nhuận, nhằm bảo đảm sức khỏe cho nhân dân. Luan van 5 Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: Bệnh viện công lập là tổ chức do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn khám chữa bệnh (Nguyễn Nguyên Hùng, 2019) Đặc điểm của bệnh viện công lập: - BVCL là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, được NSNN đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao; được sắp xếp lại, củng cố và ổn định tổ chức để nâng cao hiệu quả hoạt động. - Bệnh viện chịu sự quản lý của Nhà nước về y tế của Bộ Y tế, chịu sự quản lý hành chính về lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương nơi bệnh viện đặt trụ Sở.
- BVCL có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng ở hệ thống Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng, được bảo đảm trước pháp luật về hoạt động của tổ chức. - BVCL hoạt động trong lĩnh vực y tế theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động KCB phục vụ quản lý Nhà nước nhằm thể hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước là cung ứng hàng hóa công cộng cho xã hội. BVCL hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi ích về mặt xã hội thông qua các chủ thể trong xã hội khi sử dụng dịch vụ công được hưởng lợi ích nhiều hơn so với chi phí phải chi trả.
- BVCL có nguồn thu tài chính chủ yếu dưới hai dạng: NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp y tế. Căn cứ dự toán được giao, BVCL thực hiện chi hoạt động theo các tiêu chuẩn định mức, chế độ của nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế * Phân loại theo tuyến chuyên môn - Tuyến Trung ương: Có các BVĐK, chuyên khoa thuộc Bộ Y tế có chức năng điều trị các tuyến cuối với các can thiệp, chuyên khoa sâu với những kỹ thuật phức tạp và hiện đại. Luan van 6 - Tuyến tỉnh: Gồm các BVĐK, chuyên khoa thuộc tỉnh, thành phố trong đó có một số Bệnh viện đóng vai trò như Bệnh viện tuyến cuối của khu vực.
- Tuyến huyện: Gồm các Bệnh viện quận, huyện, thị xã là các BVĐK hoặc đa khoa khu vực liên huyện thuộc tuyến 1 trong hệ thống Bệnh viện, đóng vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong khu vực; - Các Bệnh viện ngoài công lập (tư nhân, dân lập, vốn đầu tư nước ngoài….) * Phân loại theo các nhóm đơn vị sự nghiệp y tế - Nhóm 1: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên và kinh phí đầu tư phát triển; - Nhóm 2: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên; - Nhóm 3: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên; - Nhóm 4: Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được giao do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ * Phân loại Bệnh viện theo mức độ tự chủ - ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; - ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên; - ĐVSNCL đảm bảo một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí - ĐVSNCL do nhà nước đảm bảo chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp) (Nguyễn Nguyên Hùng, 2019, pp.3 Vai trò của bệnh viện công lập - Bệnh viện công giữ vai trò chủ đạo trong công tác khám chữa bệnh, đáp ứng phần lớn dịch vụ y tế cho người dân, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho người dân. Qua đó, bệnh viện công lập phần đảm bảo mục tiêu phát triển quốc gia về con người. Luan van 7 - Bệnh viện công luôn là một tổ chức đứng đầu trong hệ thống ngành y tế về cung cấp dịch vụ y tế mang tính chất phúc lợi xã hội. Đảm bảo cho người dân đều được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý, và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Đặc biệt, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phân hóa giữa các tầng lớp thu nhập ngày càng tăng. Các tổ chức y tế ngoài công lập đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thì vai trò của tuyến công lập càng được coi trọng để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe với nhiều đối tượng người dân trong xã hội. - Hiện nay, theo chủ trương xã hội hóa các bệnh viện tuyến công lập, thì các bệnh viện công có vai trò tiên phong trong nhiều mặt. Cụ thể là đi đầu trong công tác nghiên cứu và phát triển các phương pháp chuẩn đoán, khám chữa bệnh kỹ thuật cao.
Là nơi đào tạo nhiều y bác sĩ giỏi cho cộng đồng. Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cũng giúp cho các bệnh viện công nâng cao chất lượng khám chữa bệnh góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội, mà tiến tới còn đóng góp nhất định vào ngân sách nhà nước. (Nguyễn Thị Phương Hiếu, 2018, pp. Cơ chế tự chủ tài chính tại các bệnh viện công lập 1.
Khái niệm và vai trò của cơ chế tự chủ tài chính Có nhiều quan điểm khác nhau về cơ chế, nhưng quan điểm chung nhất: Cơ chế là quá trình chuyển động dây chuyền của các bộ phận cấu thành hệ thống, trong đó có bộ phận khởi động và chủ động, các bộ phận bị động trung gian (bộ phận truyền dẫn) và bộ phận bị động cuối cùng (công, quả). Cơ chế quản lý là một hệ thống các nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý trong những giai đoạn khác nhau áp dụng cho những đối tượng khác nhau, những khâu khác nhau trong việc quản lý xã hội. Tự chủ là các chủ thể có quyền tự quyết, hành động trong khuôn khổ pháp luật, có tính chủ động và năng động trong việc điều hành các hoạt động của mình. Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuôn khổ pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị.
Luan van 8 Cùng với việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị, cơ quan cấp trên cũng yêu cầu đơn vị được trao quyền tự chủ phải chịu trách nhiệm về quyền quyết định của mình. Đơn vị phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được trao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của đơn vị mình, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị mình. Tự chủ và tự chịu trách nhiệm gắn liền với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị và đảm bảo hoạt động đó luôn đúng theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam hiện nay, cơ chế tự chủ tài chính ĐVSNCL được thực hiện theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ, quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với các ĐVSNCL.