Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính tại các bệnh viện thuộc Sở Y Tế. - Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính tại các bệnh viện thuộc Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh. - Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính tại các bệnh viện thuộc Sở Y Tế Thành Phố Hồ Chí Minh. - Danh mục Tài liệu tham khảo.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN THUỘC SỞ Y TẾ 1.1 Khái quát về ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính tại các bệnh viện thuộc Sở Y tế 1.1 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính Hiện nay, việc ứng dụng CNTT đã trở thành một yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao chất lượng quản lý, thúc đẩy bệnh viện phát triển toàn diện. Được sự quan tâm, chỉ đạo của Sở Y tế, trong thời gian qua, các bệnh viện đã chủ động triển khai các ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý và điều hành, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, công chức, viên chức, góp phần nâng cao chỉ số cải cách hành chính, phục vụ tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Với Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị trong đó khẳng định rõ tầm quan trọng của CNTT với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đã tạo ra luồng sinh khí mới, là kim chỉ nam cho CNTT Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Tiếp đó, ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Từ Chỉ thị đến Nghị quyết đã thể hiện sự quan tâm của Bộ Chính trị và sự lãnh đạo của Đảng với công tác ứng dụng, phát triển CNTT; khẳng định vai trò, tầm quan trọng của CNTT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Trong Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2014 của Bộ Chính trị xác định rõ những mục tiêu ngành CNTT Việt Nam cần đạt được thời gian tới: “CNTT phải được ứng dụng rộng rãi và trở thành một ngành kinh tế có tác động lan tỏa trong phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần 7 nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, chất lượng cuộc sống, chỉ số phát triển con người Việt Nam và nâng cao khả năng phòng thủ quốc gia trong chiến tranh mạng. Đến năm 2030, đưa năng lực nghiên cứu, ứng dụng, phát triển, sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ CNTT đạt trình độ tiên tiến thế giới; Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về CNTT và bằng CNTT”. TTHC là một bộ phận của thể chế hành chính, là một loại quy phạm pháp luật mang tính thủ tục.
TTHC được xem như cầu nối để chuyển tải các quy định cụ thể về chính sách của nhà nước vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện tốt các chính sách, nhất là thực hiện các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức. Các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp hay ở các văn bản pháp luật khác có được thực hiện hay không, thực hiện như thế nào, về cơ bản, đều phải thông qua TTHC do các cơ quan hành chính nhà nước, các cấp chính quyền quy định. Vai trò TTHC thể hiện ở chỗ nó cụ thể hóa cách triển khai pháp luật để đưa pháp luật vào đời sống. Quy định TTHC chuẩn mực là cơ sở để đảm bảo chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý HCNN.
* TTHC tại các bệnh viện gồm những nội dung cơ bản sau: - Số lượng các hoạt động cụ thể để thực hiện những hoạt động quản lý nhất định; - Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể; - Cách thức tiến hành, thời gian của hoạt động. * Các yếu tố cấu thành của TTHC tại các bệnh viện thuộc Sở Y Tế như sau: - Tên thủ tục; - Hồ sơ của thủ tục; - Trình tự thực hiện; - Cách thức thực hiện; - Thời hạn giải quyết; 8 - Đối tượng thực hiện; - Cơ quan có thẩm quyền giải quyết; - Kết quả của thủ tục; - Yêu cầu, điều kiện (nếu có); - Mẫu đơn, tờ khai (nếu có); - Phí, lệ phí (nếu có). * CCTTHC tại các bệnh viện thuộc Sở Y Tế gồm những nội dung cơ bản sau: - Rà soát, sửa đổi và bãi bỏ nhiều thủ tục bất hợp lý cản trở tất cả hoạt động tại bệnh viện. Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị nhân viên y tế lợi dụng gây nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người bệnh đến khám và điều trị, đối tác đến làm việc tại bệnh viện.
Mẫu hóa thống nhất các loại giấy tờ, các quy trình khám chữa bệnh cách công khai, minh bạch. Đẩy mạnh đơn giản hóa TTHC, cắt giảm chi phí TTHC trên tất cả các lĩnh vực trong đó lĩnh vực y tế là cấp thiết. Điều này giúp cho môi trường kinh doanh tại các bệnh viện thông thoáng, bình đẳng. Góp phần nâng cao nâng lực cạnh tranh giữa các bệnh viện trong ngành y tế.
- Đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong việc giải quyết các TTHC, theo đó khi cá nhân, cơ quan có nhu cầu giải quyết công việc chỉ phải liên hệ với bộ phận tiếp nhận và trả kết quả mà không phải đi lại nhiều lần các bộ phận trong bệnh viện. Cơ chế một cửa là cách thức giải quyết công việc của các bệnh viện trong việc công khai, hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các bệnh viện thường là phòng Hành chính quản trị. - Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu CCTTHC thay thế cơ chế nhiều cửa trong quan hệ thủ tục và giải quyết công việc giữa các bệnh viện với người bệnh và các cơ quan khác. Phần lớn các bệnh viện thực hiện cơ chế một cửa đều thực hiện 4 nội dung công khai như sau: Công khai viên chức tiếp nhận - trả hồ sơ.
9 Công khai điều kiện cần và đủ để tiếp nhận hồ sơ. Công khai thời gian trả kết quả. Công khai chi phí giải quyết hồ sơ. - Nâng cao thái độ, trách nhiệm của viên chức trong việc giải quyết các thủ tục cho người bệnh và các cơ quan khi đến làm việc tại các bệnh viện.
Ban hành cơ chế kiểm tra viên chức tiếp nhận và giải quyết công việc của người dân; xử lý nghiêm người có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thực hiện công việc. Việc xác định quyền hạn và trách nhiệm của viên chức trong khi thi hành công việc phải đi liền với việc đánh giá, khen thưởng, kỷ luật. - Tăng cường xây dựng và hoàn thiện các hình thức công khai, minh bạch tất cả các TTHC để người dân biết thực hiện và giám sát.
Các bệnh viện có trách nhiệm giải quyết công việc phải niêm yết công khai, đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác lãnh đạo tại bệnh viện. Các quy trình, TTHC tại các bệnh viện phải được công khai trên trang thông tin điện tử và niêm yết để các doanh nghiệp và người dân dễ dàng biết và thực hiện. - Ứng dụng CNTT trong việc giải quyết các TTHC nhằm bảo đảm thông tin về những TTHC đến người dân khám chữa bệnh và doanh nghiệp một cách nhanh nhất, rõ ràng, công khai, đồng thời tạo cơ sở tiến tới mở rộng việc thực hiện cung cấp các dịch vụ công trực tuyến. Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm có 4 mức: - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: Là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về TTHC và các văn bản có liên quan quy định về TTHC đó.
- Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. 10 - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng.
Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. - Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường Bưu điện đến người sử dụng. Do tính chất đặc thù của ngành y tế, có những loại TTHC không thể thực hiện đạt được dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 vì có những TTHC người dân phải đến trực tiếp các bệnh viện mang theo hồ sơ gốc để giải quyết công việc (cấp giấy chứng sinh, giấy báo tử, cấp chứng chỉ hành nghề…) CNTT ra đời đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người.
Trong CCHC, CNTT góp phần tự động hóa, đơn giản hóa các quy trình, thủ tục hành chính, tạo ra phong cách lãnh đạo, phong cách làm việc mới, cải tiến hình thức cung cấp dịch vụ công theo hướng trực tuyến.