Chương 1. Chương này trình bày nội dung: • Đánh giá thực trạng, yêu cầu của quá trình phân loại TTBYT tại Việt Nam. • Khảo sát đánh giá các hệ thống hỗ trợ phân loại TTBYT trên thế giới (Mỹ, EU, Singapore, …). • Tìm hiểu định nghĩa và nguyên lý của các hệ thống hỗ trợ ra quyết định.
Chương 2: Chương này trình bày nội dung: Phân tích thiết kế hệ thống. • Các yêu cầu nghiệp vụ của hệ thống. • Mô tả quy trình thực hiện, xử lý thông tin nghiệp vụ của hệ thống. • Thực hiện phân tích các tính năng nhiệm vụ của từng đối tượng trong hệ thống.
Từ đó, định hình và mô tả các tính năng, nhiệm vụ, mục tiêu của hệ thống. Chương này trình bày nội dung: • Mô hình và sơ đồ chức năng của hệ thống. • Giải pháp kỹ thuật xây dựng và phân tích hệ thống (các phương pháp công nghệ webservice, ngôn ngữ lập trình và cơ sở dư liệu SQL, SQLserver) để đảm bảo các tính năng nhiệm vụ yêu cầu mục tiêu. • Quy trình xây dựng – cài đặt phân cấp cây hỗ trợ quyết định (bộ câu hỏi và các đáp án trả lời dẫn hướng) dựa theo nghị định 98/2021/NĐ-CP và thông tư 05/2022/TT-BYT.
Chương này trình bày nội dung: Các giai đoạn thử nghiệm đánh giá tính khả thi của hệ thống cũng như cây hỗ trợ ra quyết định: • Giai đoạn 1: Triển khai xây dựng – cài đặt bộ câu hỏi sơ bộ trên google form để đánh giá tính chính xác và độ khả thi của hệ thống hỗ trợ ra quyết định. • Giai đoạn 2: Triển khai xây dựng phần mềm “hệ thống hỗ trợ ra quyết định phân loại trang thiết bị y tế” và kiểm thử phần mềm và tối ưu bộ câu hỏi – cây hỗ trợ ra quyết định. • Giai đoạn 3: Đánh giá độ chính xác và tính hỗ trợ ra quyết định của hệ thông thông qua việc kiểm nghiệm phân loại một tập hợp 8 TTBYT với hai nhóm đối tượng mức độ hiểu biết về phân loại TTBYT khác nhau. TỔNG QUAN Chương này trình bày tổng quan về các hệ thống hỗ trợ ra quyết định, thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin – hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong ngành y tế.
Ngoài ra, chương này đề cấp đến các nhận định, phân tích về thực trạng của việc phân loại TTBYT theo mức độ rủi ro và các ưu nhược điểm trong quá trình thực hiện việc này trong thực thế. Từ đó đề suất xây dựng các chức năng trong hệ thống để hỗ trợ giải quyết các khó khăn đã đưa ra.1 Phân tích tình hình thực tế và sự cần thiết của việc xây dựng phần mềm hỗ trợ phân loại trang thiết bị y tế 1.1 Thực trạng và công tác triển khai việc phân loại các trang thiết bị y tế theo mức độ rủi ro Kể từ sau khi ký kết hiệp định ASEAN về quản lý trang thiết bị y tế tại Băng Cốc Thái Lan ngày 21 tháng 11 năm 2014, chính phủ cùng bộ y tế đã thực hiện và ban hành nghị định quy định về quản lý trang thiết bị y tế theo mức độ rủi ro đầu tiên là Nghị định 36/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2016 thay cho Nghị định quản lý trang thiết bị y tế theo chủng loại trước đó [2]. Theo đó là các thông tư mới được ban hành để có những hướng dẫn chi tiết cụ thể việc thực hiện được kể đến như thông tư số 39/2016/TT-BYT ngày 28/10/2016 [3]. Trong quá trình triển khai trong thực tế, do có rất nhiều các khó khăn chủ quan và khách quan như đại dịch covid, sự khác biệt giữa thực tại của nền y tế Việt Nam so với các nước khác, … nên Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 [2] đã được cập nhật và bổ sung bằng các nghị định như Nghị định số 169/NĐ-CP ngày 31/12/2018 [4] và Nghị định số 03/2020/NĐ-CP ngày 01/01/2020 [5] để thống nhất quy định về quản lý – phân loại trang thiết bị y tế.
Tuy nhiên, để bắt kịp với các thay đổi trong giai đoạn mới của ngành y tế nên Nghị định số 36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 [2] đã được thay đổi bằng nghị định số Nghị định về quản lý trang thiết bị y tế số 98/2021/NĐ-CP ngày 08/11/2021 [6], hướng dẫn chi tiết thực hiện theo thông tư Thông tư 19/2021/TT-BYT ngày 16/11/2021 [7] và cập nhật một số nội dung phân loại theo thông tư 05/2022/TT-BYT ngày 01/08/2022 [8] Nhìn lại sau 6 năm thực hiện việc quản lý TTBYT theo phân loại rủi ro, mới có các trang thiết bị y tế loại A – độ rủi ro thấp được phép công bố và quản lý kể 3 từ năm 2017, các thiết bị y tế loại B – độ rủi ro trung bình thấp được phép công bố và quản lý kể từ 2022 và sẽ hậu kiểm hồ sơ công bố cũng như kết quả phân loại rủi ro. Với các trang thiết bị y tế loại C – D do phải kiểm duyệt hồ sơ cũng như kết quả phân loại trước khi cấp số đăng ký lưu hành nên đến nay (sau 6 năm thực hiện) mới có 264 số lưu hành được cấp [9]. Tham chiếu danh sách các loại A – B đã được công bố và chờ hậu kiểm trên trang chính thống của BYT lên đến hơn 10.000 bộ hồ sơ sản phẩm [9]. Tham chiếu danh sách “công khai phân loại TTBYT” loại C – D cũng trên trang cổng thông tin quản lý trang thiết bị y tế của bộ y tế [9] có thể thấy số lượng các TTBYT do các công ty đã tự công bố và chưa được đánh giá hay kiểm soát trong quá trình chờ xin và cấp số lưu hành, cụ thể khoảng khoảng 15.500 hồ sơ loại C [10], khoảng 7.
Số công bố kết quả phân loại C còn hiệu lực trên công thông tin BYT 4 Hình 1. Số công bố kết quả phân loại d còn hiệu lực trên công thông tin BYT Trên đây chỉ là các con số đang được ghi nhận tại BYT, thực tế ngành y tế luôn cập nhật các công nghệ mới – các cải tiến kỹ thuật nên số lượng các trang thiết bị cần được phân loại mức độ rủi ro sẽ lớn hơn con số đã ghi nhận không ít. Khối lượng công việc để xử lý số lượng hồ sơ này sẽ quá tải đặc biệt với vụ TTBYT khi các chuyên viên phải xử lý thủ công toàn bộ.2 Ứng dụng của công nghệ thông tin trong việc phân loại TTBYT theo mức độ rủi ro của các nước trên thế giới Quản lý phân loại trang thiết bị y tế theo mức độ rủi ro không chỉ được thống nhất trong các nước ASEAN mà còn là mục tiêu xu hướng chung trên thế giới kể cả các nước đi đầu trong ngành y tế như Mỹ, Châu Âu, Úc. Tại châu Âu, các trang thiết bị y tế được chia thành 4 mức độ rủi ro tăng dần bao gồm I – IIa – IIb – III, các yêu cầu quy tắc phân loại được dựa theo bộ tiêu chuẩn MDD.
Tuy nhiên bộ tiêu chuẩn này được xây dựng trong một hệ thống hoàn toàn kín, thông qua các văn bản quy tắc quy chuẩn mà không hề được đưa đến người sử dụng cuối. Sơ đồ phân loại theo bộ tiêu chuẩn MDD của châu âu Tại Mỹ, các trang thiết bị y tế cũng được chia dựa theo nguyên tắc của châu Âu tức bao gồm 4 loại I – IIa – IIb – III. Tuy nhiên khác với châu Âu, FDA đã tạo ra một đường link giúp người sử dụng có thể xác định mức độ rủi ro cho thiết bị thông qua trang web [12]. Tại đây có đường dẫn để truy cập đến một tập hợp các bộ hệ thống – sản phẩm tiêu biểu đã được phân loại rủi ro để người sử dụng có thể tham khảo và áp theo.
Điểm hạn chế của giải pháp này là tốc độ cấp nhật cũng như độ bảo phủ của bộ danh mục còn hạn chế nhất là trong giai đoạn hiện nay các công nghệ - giải pháp mới đang được cập nhật hàng ngày. Hệ thống hỗ trợ phân loại của FDA Mỹ Tại Úc, hệ thống hỗ trợ phân loại trang thiết bị y tế đã bước đầu xây dựng theo giải pháp hệ thống web hỗ trợ ra quyết định thông qua trang web [13]. Trang web được xây dựng dựa trên các câu hỏi với các lựa chọn trả lời “yes” “no” từ đó đưa ra gợi ý về phân loại phù hợp nhất với các câu trả lời của người sử dụng. Tuy nhiên, các câu hỏi chưa đưa hết được các tình huống – các nhánh phân loại nhỏ - các trang thiết bị có thể nằm trong nhiều quy tắc.
Hệ thống hỗ trợ phân loại của TGA ÚC Hệ thống hỗ trợ phân loại trang thiết bị y tế được đánh giá là hoàn thiện nhất hiện nay được cung cấp là hệ thống web hỗ trợ ra quyết định [14]. Hệ thống đã xây dựng một bộ gồm hơn 50 câu hỏi bao chùm tất cả các tình huống – các trường hợp mà trang thiết bị y tế có thể phù hợp. Các quy tắc đó dựa trên tác động của trang thiết bị đến cơ thể (có xâm lấn – không xâm lấn – xấm lấn vào tim mạch – xâm lấn vào hệ thống kinh, .), dựa trên các phương thức chuyển hóa năng lương của trang thiết bị y tế (có sử dụng điện năng – không sử dụng điện năng – sử dụng các chuyển đổi hóa học – sinh học, .) vì vậy hoàn toàn đáp ứng được trong các trường hợp trang thiết bị y tế update các công nghệ kỹ thuật mới. Hệ thống hỗ trợ phân loại của HSA Singapore Bộ câu hỏi không chỉ bao gồm các câu trả lời “Yes” “No” mà còn có thể là các câu hỏi nhiều lựa chọn từ đó giúp người sử dụng hiểu rõ bản chất cũng như giúp hệ thống nắm rõ và đưa ra hỗ trợ cho người dùng chính xác và nhanh chóng nhất.3 Sự cần thiết của việc xây dựng phần mềm hỗ trợ phân loại TTBYT Những con số thống kê trên thực trạng và công tác triển khai tại mục 1.1 đã thể hiện số lượng hồ sơ, số lượng công việc phải xử lý liên quan đến việc phân loại TTBYT hiện tại là rất rất lớn không chỉ với từng công ty sản xuất và kinh doanh liên quan đến TTBYT mà còn là cả với vụ TTBYT nơi phải kiểm tra toàn bộ các sản phẩm của tất cả các công ty từ sản xuất trong nước đến các sản phẩm nhập khẩu về Việt Nam.
Việc phân loại này đã được áp dụng không phải chỉ ở Việt Nam mà được áp dụng thường quy ở rất nhiều các quốc gia tiến tiến trên thế giới.2, chúng ta có thể thấy tại các nước này, quá trình phân loại TTBYT không chỉ được thực hiện thủ công mà được hỗ trợ rất nhiều từ các ứng dụng CNTT.