CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Khái quát chung về tự chủ tài chính tại bệnh viện công lập 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm và đặc điểm bệnh viện công lập Khái niệm bệnh viện công lập Khái niệm bệnh viện công lập Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (Chính phủ, 2012).
Theo Nghị định Số: 85/2012/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/10/2012 “Về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập”. - Bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế được xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: Có văn bản quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương hoặc địa phương; được Nhà nước cung cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của Nhà nước; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nước quy định; là đơn vị độc lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nước. 7 Tuy nhiên, trong cơ chế tự chủ tài chính, các bệnh viện công không còn được Nhà nước bao cấp mà phải tự chủ về tài chính cũng như tự tổ chức sắp xếp lại bộ máy sao cho hiệu quả và phải hoàn thành chỉ tiêu do Nhà nước đề ra. Các bệnh viện công tự chủ về tài chính nhưng có sự tham gia một phần của Nhà nước trong điều phối hoạt động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật.
Theo cơ chế tự chủ, các bệnh viện được linh động trong tổ chức và hoạt động để đáp ứng nhu cầu của người bệnh cũng như giải quyết được nhiều khó khăn của bệnh viện. Tự chủ tài chính giúp các bệnh viện xác định phát triển theo hướng cung cấp các dịch vụ y tế tốt nhất. Các bệnh viện sẽ thu hút sự tham gia của người dân vào hoạt động y tế thông qua chủ trương xã hội hóa y tế. Đồng thời, việc thực hiện tự chủ giúp cho các bệnh viện vừa nâng cao chất lượng khám chữa bệnh vừa tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên.
Chất lượng khám chữa bệnh thể hiện ở cải cách thủ tục rút ngắn thời gian khám chữa bệnh cho người bệnh, giảm tiêu cực, khắc phục thái độ ban ơn, hách dịch từ một bộ phận cán bộ bác sỹ. Đặc điểm bệnh viện công lập Theo Trần Thế Cương (2016) Bệnh viện công lập mặc dù có quy mô hoạt động khác nhau nhưng đều có chug một số đặc điểm như sau: “Một là, bệnh viện công lập hoạt động theo nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận. Do đây là những bệnh viện do Nhà nước thành lập, nhằm mục đích cung cấp cho xã hội các dịch vụ đặc biệt để hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bảo đảm nguồn nhân lực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao sức khoẻ, tinh thần của nhân dân.”[9] “Hai là, sản phẩm của đơn vị bệnh viện công lập lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung, gắn bó chặt chẽ quá trình tạo ra của cải vật chất. Những sản phẩm, dịch vụ do bệnh viện công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm có giá trị về sức khoẻ, thể hiện ở dạng vật chất hoặc phi vật chất không chỉ giới hạn trong một ngành, một lĩnh vực mà những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả, truyền tiếp.”[9] 8 “Ba là, hoạt động của bệnh viện công lập bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội.
Để thực hiện phát triển kinh tế, xã hội, Chính phủ phải bảo đảm hoạt động sự nghiệp y tế và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như: Chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, Chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình, Chương trình phòng chống một số bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS,… Với những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có các bệnh viện công lập mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả bởi nếu để tư nhân thực hiện họ sẽ vì mục tiêu lợi nhuận là chính mà không quan tâm nhiều đến mục tiêu xã hội dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng và kìm hãm sự phát triển hiệu quả công bằng xã hội.”[9] “Bốn là, các bệnh viện công lập có nguồn thu từ việc thực hiện các dịch vụ y tế ngoài nguồn tài chính do NSNN cấp. Nhà nước đã giao cho bệnh viện công lập quyền được khai thác nguồn thu trong phạm vi, chức năng và nhiệm vụ của đơn vị. Khái niệm tự chủ tài chính “Cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp nói chung và cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp y tế công lập nói riêng hiện nay được quy định Theo Nghị định Số: 141/2016/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/2016 “Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác”.”[22] - “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác: là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp khác.”[22] Đơn vị sự nghiệp y tế được cơ quan có thẩm quyền quyết định thực hiện cơ chế tự chủ theo các nhóm sau đây: - Nhóm 1: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. - Nhóm 2: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên.
- Nhóm 3: Đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. - Nhóm 4: Đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. 9 Đơn vị sự nghiệp y tế xây dựng phương án tự chủ, xác định phân loại đơn vị theo một trong các nhóm quy định dựa trên căn cứ để đơn vị xây dựng phương án tự chủ: - Cơ chế giá dịch vụ, phí và lệ phí đơn vị được thực hiện. - Mức tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư từ các nguồn thu của đơn vị.
- Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị được giao. “Như vậy, cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm hoàn thiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị. Khái niệm tự chủ tài chính tại bệnh viện công lập “Tự chủ tài chính của bệnh viện công lập được hiểu là quyền tự quyết định tự chịu trách nhiệm đối với việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính nhằm duy trì sự hoạt động và phát triển không ngừng của bệnh viện”[21] Theo Chính phủ (2015), cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công. Thực hiện Nghị quyết 19-NQ/TW, giải pháp của ngành y tế là khuyến khích tự chủ, sắp xếp lại bộ máy để cắt giảm nhân sự hành chính, tăng nhân lực làm chuyên môn.
Bên cạnh đó, trong mỗi bệnh viện, có những công việc hoàn toàn có thể thuê ngoài như bảo vệ, hấp sấy, vệ sinh, lái xe… Có những bộ phận, trung tâm có thể thực hiện tự chủ thì không tính vào tổng lượng biên chế. Như vậy sẽ dôi ra nhiều biên chế để tuyển dụng cho những nơi thiếu như vùng sâu, vùng xa, cho những lĩnh vực chưa thể tự chủ. Với việc đưa chi phí tiền lương vào giá dịch vụ y tế, tăng tỷ lệ người dân tham gia BHYT trong thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Y tế khẳng định rằng sẽ có nhiều hơn nữa đơn vị tự chủ tài chính, giảm số người hưởng lương từ ngân sách trong khi vẫn hoàn thiện đội ngũ làm chuyên môn, nâng cao được chất lượng khám chữa bệnh. 10 Như vậy, có thể hiểu tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập là phương thức quản lý tài chính trong nền kinh tế thị trường dựa trên cơ sở trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động tài chính cho các bệnh viện công lập.
Theo đó, bệnh viện công lập tự quyết định việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính, đảm bảo cân đối thu chi qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị. Tầm quan trọng của việc tự chủ tài chính tại bệnh viện công lập “Qua những năm thực hiện cơ chế tự chủ, hoạt động của nhiều đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các bệnh viện công lập nói riêng đã có thay đổi đáng kể. Những quy định trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và gần đây nhất là Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ là những bước phát triển tiếp theo của Nghị định số 10/2002/NĐ-CP đã quy định rộng hơn về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập, không chỉ cho phép các đơn vị này thực hiện tự chủ tài chính, mà còn cho phép thực hiện quyền tự chủ từng phần cả về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế”[21].