CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN THU, CHI TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Mọi hoạt động của đơn vị, muốn đạt được hiệu quả cao thì ngoài việc xây dựng các chương trình, mục tiêu, các nhà quản lý cần phải chú trọng đến công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm nâng cao sức cạnh tranh và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực hiện có chính là mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào mà không phân biệt quy mô hoạt động. Do đó, khi tổ chức bất kỳ hoạt động nào của đơn vị, bên cạnh việc sắp xếp cơ sở vật chất, nhân sự các nhà quản lý phải lồng vào đó sự kiểm tra, kiểm soát của mình bằng cách xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ.
Khái niệm kiểm soát nội bộ không phải là mới đối với các nhà nghiên cứu. Khái niệm này từ lâu đã được hình thành và phát triển để trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản lý của đơn vị. Qua nghiên cứu, các tổ chức đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về KSNB, cụ thể: -Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì: KSNB là một hệ thống chính sách, tiêu chuẩn và thủ tục nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản, bảo đảm độ tin cậy và trung thực của các thông tin báo cáo, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và bảo đảm hiệu quả của hoạt động. Theo đó kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của các đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn ngừa nhằm thực hiện có hiệu quả tất cả các mục tiêu đặt ra của đơn vị[18].
7 - Thông qua quá trình quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ thì báo cáo của COSO (1992) được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ-Khuôn khổ hợp nhất đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ như sau: kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động, sự tin cậy của báo cáo tài chính và sự tuân thủ pháp luật và các quy định [1, tr. -Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VAS 400) thì: KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định để kiểm tra, kiểm soát ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị [3]. Các định nghĩa trên mặc dù được đưa ra bởi các Hiệp hội, tổ chức khác nhau nhưng đều đề cập chung một số vấn đề mà chúng ta cần làm sáng tỏ để có một cái nhìn tổng quát về kiểm soát nội bộ, cụ thể: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình: có nghĩa là các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Kiểm soát nội bộ không chỉ là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận của tổ chức.
Kiểm soát nội bộ hữu hiệu khi nó được xây dựng là một bộ phận cơ bản trong hoạt động của đơn vị, không thể tách rời chứ không phải chỉ là một chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức [1, tr. - Kiểm soát nội bộ được xây dựng và sử dụng bởi con người hay nói cách khác kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người. Con người luôn đặt ra mục tiêu, đưa ra cơ chế kiểm soát nhằm vận hành đúng, hướng tới những mục 8 tiêu đã đặt ra [1, tr. - Đảm bảo hợp lý: kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ, đó là những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý vượt khỏi tầm kiểm soát [1, tr. - Các mục tiêu: mỗi đơn vị thường đặt ra các mục tiêu kiểm soát cụ thể, đó là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu riêng cho từng hoạt động, từng bộ phận bao gồm: + Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả việc sử dụng nguồn lực. + Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính. + Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ Việc thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ mang lại cho tổ chức những lợi ích như: - Làm giảm nguy cơ rủi ro tiềm ẩn xảy ra trong quản lý của đơn vị. - Đảm bảo an toàn tài sản và bảo mật thông tin trong đơn vị. - Đảm bảo tính tuân thủ của các hoạt động đối với chính sách chế độ pháp luật của Nhà nước, các quy định, quy chế đề ra trong đơn vị. Đồng thời giám sát mức hiệu lực và hiệu quả của chính sách chế độ, quy định đó trong việc ngăn chặn và phát hiện các sai phạm trong hoạt động của đơn vị.
- Đảm bảo tính trung thực và hợp lý, sự phù hợp với thông lệ, chuẩn mực và quy định của tài chính, kế toán hiện hành, các thông tin được phản ánh 9 trên báo cáo tài chính. - Đảm bảo cho tổ chức hoạt động có hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đề ra. Các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB theo báo cáo COSO (1992) [1] Theo báo cáo COSO thì hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm năm yếu tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát. Năm yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể: a.
Môi trường kiểm soát Là ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức của toàn bộ nhân viên trong đơn vị được thể hiện qua tính kỷ luật, kỷ cương của tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý, phong cách điều hành của nhà quản lý… Môi trường kiểm soát bao gồm các nhân tố chính như: tính trung thực và giá trị đạo đức, đảm bảo về năng lực, hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán, cơ cấu tổ chức, cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm, chính sách nhân sự. Đánh giá rủi ro Đối với mọi hoạt động đều phát sinh những rủi ro khó có thể kiểm soát. Vì vậy nhà quản lý cần phải nhận thức và đối phó với các rủi ro mà tổ chức có thể gặp phải. Việc đánh giá rủi ro được thể hiện: xác định được mục tiêu, nhận dạng rủi ro sau đó phân tích và đánh giá rủi ro.
Hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm soát chính là những chính sách và thủ tục kiểm soát để đảm bảo cho các quyết định của nhà quản lý thực hiện nhằm đạt được mục tiêu. Hoạt động kiểm soát diễn ra trong toàn đơn vị ở mọi cấp độ, mọi hoạt động như: hoạt động kiểm soát trách nhiệm của từng nhân viên trong từng bộ phận, kiểm soát quá trình xử lý thông tin, bảo vệ tài sản và phân tích rà soát để 10 có thể phát hiện ra những vấn đề bất thường nhằm điều chỉnh kịp thời. Thông tin và truyền thông Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi dưới các hình thức khác nhau làm sao các thành viên trong đơn vị thực hiện nhiệm vụ của mình. Thông tin và truyền thông tạo ra báo cáo, cung cấp thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát.
Sự trao đổi thông tin hữu hiệu xảy ra theo nhiều hướng: từ trên xuống, từ dưới lên hoặc giữa các cấp với nhau. Ngoài ra cũng cần trao đổi thông tin từ bên trong tổ chức với các đối tượng bên ngoài. Hoạt động giám sát Là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát kiểm soát nội bộ theo thời gian, xác định những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ có vận hành đúng như thiết kế và có được phát hiện kịp thời để có những biện pháp khắc phục càng sớm càng tốt. Hệ thống kiểm soát nội bộ theo mô hình truyền thống Hệ thống kiểm soát nội bộ theo mô hình truyền thống thông thường được hình thành từ 3 yếu tố: Môi trường kiểm soát; hệ thống thông tin; các thủ tục kiểm soát.
Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành của quá trình kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị. Các nhân tố này liên quan đến quan điểm, thái độ, nhận thức cũng như hành động của nhà quản lý trong đơn vị. * Các nhân tố bên trong bao gồm: - Đặc thù về quản lý: chỉ những quan điểm khác nhau của nhà quản lý đối với toàn bộ hoạt động của đơn vị.
Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu phụ thuộc vào quan điểm và cách thức điều hành của người quản lý. Nếu như 11 người quản lý coi trọng kiểm soát là quan trọng và thông qua hoạt động của mình chỉ ra những quan điểm rõ ràng cho các nhân viên về sự quan trọng của kiểm soát thì những thành viên trong tổ chức sẽ nhận thức được điều đó và họ sẽ tuân thủ hệ thống kiểm soát đã được thiết lập. Ngược lại nếu như những thành viên của tổ chức xem kiểm soát không phải là vấn đề quan trọng đối với người quản lý cấp cao nhất và họ không nhận được sự hổ trợ trong việc kiểm soát từ phía người lãnh đạo thì chắc rằng mục tiêu kiểm soát của người quản lý sẽ không thể đạt được một cách hữu hiệu.