CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TỰ CHỦ 1. Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 1. Khái quát về tự chủ Tự chủ là một khái niệm rộng gồm nhiều khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm về trình độ phát triển của mỗi quốc gia, nhận thức của mỗi trường mà khái niệm này được phản ánh và thực hiện theo cách thức khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, “tự chủ là việc điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc tổ chức, không bị cá nhân, hoặc tổ chức khác chi phối”.
Theo quan điểm của Clark, một nguồn tài chính đa dạng là một phần của tự chủ, ông cho rằng: “định nghĩa sử dụng được về tự chủ là sự không phụ thuộc vào một nguồn hỗ trợ duy nhất và chật hẹp nào cả”. Theo Sheehan, tự chủ là khả năng đưa các quyết định tài chính, sự độc lập với chính phủ, với các hội đồng tài trợ và đặc biệt là khả năng tạo ra các nguồn tài trợ công và phân bổ nguồn tài chính này một cách độc lập. Còn theo Rothblatt, tự chủ tài chính là sự quyết định độc lập về sử dụng ngân sách cấp[12]. Như vậy, cả Sheehan và Rothblatt đều cho rằng: tự chủ tài chính gắn với các nguồn lực tiền tệ.
Như vậy, bản chất của tự chủ là sự phân chia quyền lực của Nhà nước với các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp công lập được quyền tự chủ trong quản lý lao động, quản lý tài chính. Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ Trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập khi thực hiện quyền tự chủ là phải chủ động trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng các nguồn lực mình có một cách có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động của đơn vị. Trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ cần phải đảm bảo công khai, minh bạch và thực hiện tốt quy chế dân chủ.
Tự chủ tài chính là một yếu tố của tự chủ các đơn vị sự nghiệp công 4 lập. Nó là một khái niệm được sử dụng khi đồng thời đề cập đến cả hai vấn đề là tài chính và quyền tự chủ. Trong đó vấn đề tài chính được phản ánh thông qua các nguồn lực của tổ chức, các chi phí, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Tự chủ tài chính liên quan đến sự phụ thuộc của đơn vị sự nghiệp công lập về nguồn ngân sách của nhà nước và các nguồn thu nhập thay thế.
Theo Estermann và Nokkala, tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập là mức kinh phí được cấp của nhà nước và năng lực tài chính của bản thân các đơn vị sự nghiệp công lập (gồm có: mức độ mà các đơn vị sự nghiệp công lập có thể tích lũy nguồn tài chính và lợi nhuận; khả năng xác định mức học phí; khả năng huy động các nguồn thu; khả năng đầu tư tài chính[10]… Các tác giả Ashby và Sheehan đều đồng ý rằng: có hai vấn đề phản ánh đến tự chủ tài chính đó là quyền tự do phân bổ nguồn tài chính và quyền tự do tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính tư nhân Quyền quyết định của các đơn vị sự nghiệp công lập trong tự chủ tài chính cho phép các đơn vị có điều kiện huy động các nguồn lực và phân bổ nguồn tài chính để hiện thực hóa những mục tiêu đặt ra. Nội dung tự chủ về tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập gồm có: chủ động quản lý thu (các khoản thu ngoài NSNN), chi quản lý và phân phối quỹ, quản lý các quỹ chuyên dụng, quản lý tài sản, quản lý nợ phải trả. Tuy vậy, các hoạt động này phải luôn gắn các hoạt động này với mục tiêu cuối cùng là bền vững tài chính. Theo chủ thể quản lý thì ĐVSN được phân thành: - ĐVSN công lập do trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình Việt Nam, bệnh viện tuyến trung ương, trường học do trung ương quản lý… - ĐVSN công lập do địa phương quản lý như: Đài truyền hình tỉnh, thành phố, bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện, trường học do địa phương quản lý… Theo lĩnh vực hoạt động thì ĐVSN công lập được chia thành: - ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa CNTT, nghệ thuật bao gồm các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tang, trung tâm thông tin triển lãm, thư viện công cộng, đài phát thanh truyền hình… 5 - ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế bao gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp, địa chính,… - ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao bao gồm trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao,… - ĐVSN hoạt động trong lĩnh vực giáo dục bao gồm các trường mầm non, tiểu học, trung học, trung tâm đào tạo chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, học viện… - ĐVSN công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm các bệnh viện các tuyến trung ương, địa phương, các trung tâm y tế, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, trung tâm điều dưỡng… Tóm lại, đặc điểm, lĩnh vực hoạt động, tính chất hoạt động và mục đích hoạt động của các ĐVSN công lập được xem là một trong những nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính tại các Đơn vị sự nghiệp công lập.
Hiệu quả tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 1. Khái quát về hiệu quả Thuật ngữ hiệu quả là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong kinh tế. Có thể hiểu một cách chung nhất hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng với nguồn lực đầu vào khan hiếm (lao động, vật tư, máy móc thiết bị…). Theo nghĩa rộng thì hiệu quả được thể hiện mối quan hệ tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó.
Khái quát về hiệu quả tài chính Có quan điểm cho rằng, hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc huy động, quản lí và sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế.TS Nguyễn Năng Phúc (chủ biên), Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính, nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2011, trang 199: 6 Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt hiệu quả cao nhất [4]. Nâng cao hiệu quả tài chính hay hiệu quả kinh doanh là một trong các biện pháp quan trọng nhằm phát triển doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao. Việc phân tích hiệu quả tài chính hay hiệu quả kinh doanh là vô cùng cần thiết và quan trọng của mỗi doanh nghiệp, là căn cứ cho việc đề ra các biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính và các nguồn lực khác có hiệu quả hơn.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính Khi đánh giá hiệu quả tài chính hay hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau: 1. Các chỉ tiêu đánh giá khái quát hiệu quả tài chính chung - Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE): cho biết mỗi đồng đầu tư của vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng tốt, góp phần đảm bảo khả năng đầu tư của chủ doanh nghiệp [4]. Tỷ suất sinh lời của vốn Lợi nhuận sau thuế = chủ sở hữu (ROE) Vốn chủ sở hữu bình quân - Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA): Là chỉ số cho biết mỗi đồng đầu tư vào tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp [4].
Tỷ suất sinh lời Lợi nhuận sau thuế của tài sản (ROA) = Tài sản bình quân - Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS): chỉ số này cho biết mỗi đồng doanh thu thuần thực hiện trong kỳ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, giúp phản ánh năng lực tạo sản phẩm có chi phí thấp hoặc giá bán cao của doanh nghiệp [4]. Tỷ suất sinh lời của Lợi nhuận sau thuế doanh thu (ROS) = Tổng doanh thu 7 1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính bộ phận (1) Khả năng thanh toán - Khả năng thanh toán chung: Khả năng thanh toán chung phản ánh khả năng quan hệ giữa tài sản mà doanh nghiệp hiện đang quản lý sử dụng với tổng nợ ngắn hạn. Nó cho biết cứ trong một đồng nợ ngắn hạn có bao nhiêu đồng tài sản đảm bảo.
KN TT chung= Tổng TSLĐ/Tổng nợ ngắn hạn - Khả năng thanh toán nhanh: Khả năng thanh toán nhanh cho biết doanh nghiệp có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền (trừ hàng tồn kho) để thanh toán ngay cho một đồng nợ ngắn hạn. KH TT nhanh= (Tổng TSL Đ-Tồn kho) / Tổng nợ ngắn hạn; (2) Mắc nợ - Mắc nợ chung= Tổng nợ/ Tổng vốn; - Hệ số mắc nợ (K)= Vốn vay/ Vốn chủ; - Khả năng thanh toán lãi vay= (Lợi nhuận trước thuế+ Lãi vay)/ Lãi vay; (3) Hoạt động - Số vòng quay tồn kho: Số vòng quay tồn kho cho biết trong 1 kỳ hàng tồn kho quay được bao nhiêu vòng để tạo ra số doanh thu được ghi nhận trong kỳ đó. Số vòng quay tồn kho= Doanh thu tiêu thụ/ Giá trị tồn kho; - Kỳ thu tiền bình quân: Kỳ thu tiền bình quân cho biết doanh nghiệp mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình. Kỳ thu tiền bình quân= (Các khoản phải thu/Doanh thu tiêu thụ) x 360 ngày; - Hiệu quả sử dụng vốn cố định= Doanh thu tiêu thụ/ Vốn cố định; - Số vòng quay toàn bộ vốn= Doanh thu tiêu thụ/ Tổng vốn; 1.
Quản lý hiệu quả tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ 1.