phần mở đầu đã xác định mục đích nghiên cứu của đề tài thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các BVCL. Cho nên luận văn tiếp cận nghiên cứu từ cách phân loại thứ ba, tức là căn cứ vào mức độ đảm bảo kinh phí hoạt động của bệnh viện. Tuy nhiên, cũng cần phải chỉ ra rằng tự chủ tài chính của BVCL là phương thức quản lý tài chính và do đó tự chủ tài chính không thể tách khỏi hệ thống quản lý tài chính công. Vì vậy, việc nghiên cứu tự chủ tài chính của BVCL gắn liền phân cấp quản lý theo các tuyến (cách phân loại thứ 3), tuyến Trung ương và tuyến địa phương quản lý.
Trên thực tế, giữa cách phân loại theo cấp quản lý và mức độ tự chủ tài chính có những trùng hợp, như những BVCL do Trung ương quản lý thông thường đó là những bệnh viện loại 1,2, có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo kinh phí hoạt động thương xuyên và kinh phí đầu tư phát triển. Tương tự các bệnh viện do địa phương quản lý ở tuyến tỉnh, thành phố và các quận huyện là những bệnh viện thuộc loại 3, 4 tức là chỉ đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, hoặc do NSNN cấp toàn bộ. Vì vậy, tiếp cận nghiên cứu đề tài từ cách phân loại căn cứ vào mức độ đảm bảo kinh phí hoạt động của BVCL gắn với phân cấp quản lý theo tuyến trong hệ thống BVCL.2 Tài chính của Bệnh viện công lập a) Tài chính và hoạt động hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường: Tài chính là phạm trù kinh tế tồn tại gắn liền với sự tồn tại của nhà nước và kinh tế hàng hóa. Hay nói cách khác chừng nào còn tồn tại nhà nước và kinh tế hàng hóa, tài chính còn tồn tại khách quan.
Bất cứ Nhà nước nào trong lịch sử đều có chức năng quản lý kinh tế xã hội nhất định, để thực hiện chức năng đó, Nhà nước cần có một nền tài chính vững mạnh. Song trong điều kiện sản xuất hàng hóa các quan hệ kinh tế được thực hiện dưới quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Tiền tệ là hình thái của giá trị, là phượng tiện đo lường giá trị đồng thời tiền cũng là phương tiện dùng để tính toán chi phí, lỗ lãi. Trong điều kiện sản xuất hàng hóa, để đảm bảo tái sản xuất diễn ra (xét ở cấp độ vi mô của các doanh nghiệp) thì doanh thu có được sau quá trình sản xuất được phân thành các quỹ: quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, quỹ tiền công để tái sản xuất ra sức lao động và quỹ tích lũy để tái sản xuất mở rộng và khoản bắt buộc phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước.
Quá trình phân phối diễn ra làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước, doanh nghiệp với lao động, doanh nghiệp với các tổ chức kinh tế,… các quan hệ kinh tế được thực hiện dưới hình thức tiền tệ. Sự vận động của đồng tiền không phải hỗn độn mà theo những kênh nhất định để hình thành nên các quỹ tiền tệ và phân phối, sử dụng các quỹ đó nhằm mục đích tái sản xuất. Hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức tiền tệ trong quá trình hình thành phân phối 9 Luan van sử dụng các quỹ tiền nhằm mục đích tái sản xuất đó gọi là quan hệ tài chính. Đến nay, trên các sách, báo, giáo trình dùng để nghiên cứu giảng dạy trong lĩnh vực kinh tế tài chính, cơ bản đã có sự thống nhất về khái niệm tài chính.
Theo Giáo trình Kinh tế Chính trị Mác - Lênin của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Tài chính nước ta là hệ thống quan hệ kinh tế biểu hiện trọng lĩnh vực hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế quốc dân nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển xã hội chủ nghĩa” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006). Như vậy, có thể khái quát tài chính là một phạm trù kinh tế, phản ánh các mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành, quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phát triển sản xuất và thoả mãn các nhu cầu của chung xã hội, cũng như các nhu cầu của các tổ chức, cá nhân. Bản chất của tài chính được thể hiện ở cả hai chức năng: chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Chức năng phân phối là chức năng vốn có của tài chính.
Đó là quá trình phân phối nguồn lực tài chính thành các phần khác nhau, được sử dụng cho những mục đích của những chủ thể kinh tế, xã hội nhất định và từ đó tạo nên những quỹ tiền tệ trong hệ thống tài chính quốc gia. Chức năng giám đốc của tài chính được thực hiện ngay trong quá trình hình thành, sử dụng tổng thu nhập quốc dân, quá trình tái sản xuất xã hội. Tài chính thông qua đồng tiền để giám sát việc quản lý và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách có hiệu quả. Hai chức năng trên của tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
- Hệ thống tài chính Hệ thống tài chính gồm các khâu, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Căn cứ vào sự vận động của đồng tiền hình thành nên các tụ điểm tài chính gắn liền với việc quản lý, sử dụng các quỹ tiền tệ của các chủ thể. Có thể phân chia hệ thống tài chính thành các khâu sau: + Ngân sách nhà nước. + Tài chính doanh nghiệp.
+ Tài chính của các tổ chức tài chính (tín dụng, công ty tài chính và bảo hiểm) + Tài chính hộ gia đinh và các tổ chức kinh tế, xã hội. Mỗi khâu trong hệ thống tài chính vừa là bộ phận độc lập thực hiện chức năng tài chính của chủ thể nhất định đồng thời vừa có quan hệ với nhau hoặc trực tiếp hay gián tiếp thông qua thị trường tài chính. Hoạt động của hệ thống tài chính 10 Luan van trong nền kinh tế thị trường mô tả bằng sơ đồ (Bộ Giáo dục và Đào tạo 2000). Hệ thống tài chính trong nền kinh tế thị trường Ngân sách nhà nước Tài chính Thị trường tài Tổ chức tài chính, danh nghiệp chính tín dụng, bảo hiểm, công ty tài chính Tài chính hộ gia đình, các tổ chức kinh tế, xã hội + NSNN: bao gồm các khoản thu của Nhà nước để đảm bảo cho các khoản chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu quan trọng đối với hoạt động của nền tài chính quốc gia. NSNN là điều kiện vật chất để nhà nước thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, đồng thời NSNN còn là công cụ điều tiết kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và giữ gìn trật tự an ninh xã hội, bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia. - Tài chính doanh nghiệp: đây là khâu tài chính gắn liền với quỹ giá trị phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh thông qua việc tạo lập, phân phối sử dụng các quỹ. Tài chính doanh nghiệp có quan hệ phụ thuộc với các khâu khác của hệ thống tài chính.
-Tài chính của các tổ chức tín dụng, công ty tài chính bảo hiểm (khâu tài chính trung gian). Thông qua hoạt động của các tổ chức tín dụng và công ty tài chính để thu hút các nguồn tài chính hình thành các quỹ để cho vay đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả có thời gian. Quỹ bảo hiểm hình thành do nhu cầu giải quyết rủi ro có thể xảy ra trong sản xuất kinh doanh và đời sống con người. Thông qua việc huy động vốn của nhiều đối tượng và chi trả bảo hiểm nhằm chia sẽ những rủi ro bất trắc trong đời sống của cá nhân.
-Tài chính hộ gia đình và các tổ chức kinh tế - xã hội: là khâu tài chính liên quan đến đời sống của hầu hết các bộ phận dân cư và hoạt động của các tổ chức kinh tế - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường v. 11 Luan van Quỹ tài chính hộ gia đình được hình thành từ các nguồn thu nhập cá nhân như tiền lương, tài sản thừa kế, quà tặng… Quỹ này dùng chi tiêu cho nhu cầu của gia đình, các khoản đóng góp vào NSNN, đóng bảo hiểm. Quỹ tài chính của các tổ chức kinh tế, xã hội là các đơn vị hành chính trong bộ máy quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập chủ yếu được hình thành từ nguồn kinh phí của NSNN để chi cho các hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, quan hệ tài chính giữa nhà nước (NSNN) với các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các BVCL nói riêng đã có sự thay đổi căn bản.
Cấu trúc tài chính của nhà nước được phân công theo chức năng, một bộ phận tài chính nhà nước đảm nhận chức năng trong các đơn vị sự nghiệp công lập và do đó khái niệm tài chính công xuất hiện và dần được hình thành. Vì vậy ở đây, về nhận thức cần làm rõ hai khái niệm tài chính nhà nước và tài chính công, trước khi nghiên cứu sâu tài chính BVCL. * Tài chính Nhà nước: Nội hàm của khái niệm tài chính Nhà nước gồm: NSNN, dự trữ Nhà nước, tín dụng Nhà nước, ngân hàng Nhà nước, tài chính các cơ quan hành chính, tài chính các đơn vị sự nghiệp và tài chính các doanh nghiệp Nhà nước. Trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước sang đa dạng hóa hình thức sở hữu, chỉ còn lại phần giá trị vốn, tài sản sở hữu của Nhà nước là còn thuộc tài chính Nhà nước.
* Tài chính công: Cùng với quá trình phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường đã làm thay đổi một cách căn bản về vai trò, vị trí, chức năng của tài chính, khái niệm tài chính công đã đình hình và có sự phân định rõ với tài chính Nhà nước.