Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ y tế bệnh viện công Chương 2: Cơ chế tài chính và thực trạng cung cấp, tiếp cận dịch vụ y tế bệnh viện công ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp đổi mới cơ chế tài chính cho việc cung cấp dịch vụ y tế bệnh viện công ở Việt Nam CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG 1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG 1. Những khái niệm cơ bản Một cách tổng quát, có thể định nghĩa: Dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra những sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người. Xét về mặt lô-gic, dịch vụ y tế có thể được cung cấp bởi nhiều chủ thể khác nhau.
Dịch vụ y tế bệnh viện công chính là những dịch 4 z vụ y tế phục vụ các tầng lớp dân cư được cung cấp bởi các bệnh viện do nhà nước thành lập và hoạt động theo các quy định pháp luật của nhà nước. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ y tế bệnh viện công - Sản phẩm dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hàng hoá tư nhân Khác với các ngành sản xuất vật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hàng hoá tư nhân. Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ hai đặc tính của hàng hoá công cộng đó là không muốn loại trừ và không thể loại trừ. Tính chất thứ hai của sản phẩm dịch vụ y tế là nó mang tính chất của hàng hoá tư nhân.
Tính chất này của sản phầm dịch vụ y tế đòi hỏi người sử dụng dịch vụ y tế phải trả phí sử dụng dịch vụ để bù đắp chi phí, tái sản xuất, tái cung cấp sản phẩm dịch vụ y tế. - Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn lực chủ yếu trong việc đảm bảo các dịch vụ y tế cơ bản Chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường đối với các hoạt động y tế , Nhà nước có thể động viên được thêm nguồn thu nhập đáng kể để bổ sung vào nguồn ngân sách hạn chế , nâng cao được chất lượng phục vụ của ngành y tế. Tuy nhiên cũng không có nghĩa là Nhà nước thả nổi cho thị trường quyết định toàn bộ .Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn lực chủ yếu trong việc đảm bảo các dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho người nghèo và định hướng thị trường. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG Cơ chế tài chính cho các dịch vụ y tế là toàn bộ những phương thức, cách thức chi trả và thanh toán các dịch vụ y tế đã được cung 5 z cấp, phù hợp với pháp luật và nhằm đảm bảo cho người cung cấp dịch vụ y tế có thể duy trì hoạt động cung cấp một cách bình thường (có lợi nhuận đối với cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh tư nhân).
Cơ chế tài chính đối với dịch vụ y tế bệnh viện công là hệ thống những quy định của nhà nước về nguồn tài chính cho việc cung cấp và tiếp cận các dịch vụ y tế bệnh viện công, góp phần thực hiện chính sách CSSK đối với dân cư. Trên thế giới thường có ba hình thức cung cấp tμi chính cho dịch vụ y tế bệnh viện công: (i) Nguồn tμi chính từ ngân sách nhμ n−ớc; (ii) Chi phí từ túi ng−ời dân; vμ (iii) Các mô hình chi trả tr−ớc hay còn gọi lμ bảo hiểm y tế. Nguồn tμi chính từ ngân sách nhμ n−ớc Trước hết, ngân sách nhà nước là nguồn để nhà nước đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các bệnh viện công. Ngân sách nhà nước cũng là nguồn đảm bảo chi thường xuyên cho sự hoạt động bình thường của hệ thống bệnh viện công.
Chi phí cá nhân (chi trả trực tiếp từ túi ng−ời dân) Dịch vụ y tế cũng mang ý nghĩa là HHCN. Vì thế, việc cá nhân người bệnh phải trực tiếp chi trả cho các dịch vụ y tế – ngay cả dịch vụ y tế bệnh viện công là điều tự nhiên. Khoản chi này, ở Việt Nam được gọi là Viện phí. Bảo hiểm y tế hay các mô hình chi trả tr−ớc Bảo hiểm y tế là một trong những biện pháp chia sẽ rủi ro về chi phí y tế giữa cá nhân và cộng đồng.
Bảo hiểm y tế được khai thác bằng hai hình thức là bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện. MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ BỆNH VIỆN CÔNG VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 1. Hệ thống y tế nhà nƣớc (HTYTQG) ở Vƣơng Quốc Anh Hệ thống này ra đời từ năm 1948. Nguyên tắc là: tạo khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho tất cả mọi người dựa trên nhu cầu chứ không phải trên khả năng chi trả.
Song, mặc dù đạt được nhiều thành tựu, HTYTQG Anh cũng không bắt kịp những thay đổi của xã hội. Để được sử dụng dịch vụ, bệnh nhân thường phải chờ đợi quá lâu. Có sự chênh lệch không thể chấp nhận được về tiêu chuẩn trên cả nước và những gì bệnh nhân được hưởng phụ thuộc quá nhiều vào nơi họ cư trú và HTYTQG. Chính sách CSSK cho ngƣời nghèo ở Thái Lan.
- Các chương trình CSSK cho người nghèo giai đọan trước 2001 Vào thời điểm năm 1998, tổng cộng diện bao phủ của chương trình CSSK miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, trẻ em, người tàn tật và hai chương trình BHYT bắt buộc cho công chức và người lao động trong các doanh nghiệp là 65% dân số Thái Lan. CSSK cho 35% dân số còn lại là một thách thức lớn đối với Thái Lan. - Chương trình thẻ 30 bạt - giải pháp CSSK cho người nghèo lồng ghép trong CSSK toàn dân Nội dung cơ bản của chương trình cải cách này là dừng tất cả các chương trình BHYT tự nguyện và các chương trình thẻ KCB miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, trẻ em và người tàn tật; thay vào đó là cấp thẻ KCB (gọi là thẻ 30 bạt) cho 48 triệu công dân không thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Với giải pháp này, Thái Lan nhanh chóng đạt mục tiêu 100% dân số được CSSK.
Cải cách chính sách Y tế nông thôn ở Trung Quốc và kinh nghiệm cho các nƣớc đang phát triển Hệ thống y tế hợp tác xã (''cooperative medical system'' - CMS) ở Trung quốc đã có một thời hoàng kim vào những năm 70 thế kỷ trước, khi CMS bao phủ tới 90% nông dân Trung quốc. Nếu coi CMS là một chương trình bảo hiểm y tế dựa trên cộng đồng thì đây chính là chương trình BHYTCĐ thành công nhất cho tới nay trên thế giới. Đến cuối năm 2004, chương trình ''new CMS'' được thí điểm tại 333 huyện (khoảng 16% số huyện của Trung quốc) tại tất cả 31 tỉnh ở Trung Quốc. Dự kiến đến cuối năm 2010, ''new CMS'' sẽ được mở rộng ra toàn quốc.
Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam i) Nhà nước phải là người “cầm chịch” trong việc soạn thảo , ban hành các chủ trương, chính sách, chương trình chăm sóc sức khoẻ cho người dân. ii) Chính sách CSSK, cũng như các chính sách tài chính y tế ,chính sách cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế, chính sách phát triển nhân lực y tế,chính sách tổ chức và quản lý phải luôn luôn được điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. iii) Tài chính cho y tế cần được huy động từ nhiều nguồn; thực hiện phân bổ tài chính y tế theo nhu cầu với hệ số điều chỉnh dựa trên một số yếu tố địa lý, dân cư, điều kiện kinh tế xã hội, v.v…Ưu tiên y tế dự phòng. iv) Tạo khả năng tiếp cận dịch vụ(CSSK cho tất cả mọi người dựa trên nhu cầu chứ không phải trên khả năng chi trả.
Có cơ chế tài chính đối với dịch vụ y tế bệnh viện công theo hướng tính đúng tính đủ tất cả các chi phí tạo điều kiện cho chủ trương chuyển cơ chế cấp NSNN cho các cơ sở KCB sang cấp cho các đối tượng hưởng thụ 8 z dịch vụ y tế được nhà nước trợ cấp. v) Củng cố mạng lưới y tế dự phòng tăng cường chăm sóc sức khoẻ ban đầu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; mở rộng và phát huy vai trò của khu vực y tế tư nhân CHƢƠNG 2 CƠ CHẾ TÀI CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG Ở VIỆT NAM 2. CƠ CHẾ TÀI CHÍNH VÀ VIỆC CUNG CẤP , TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG Ở VIỆT NAM 2. Cơ chế tài chính ngân sách Nhà nƣớc trong lĩnh vực y tế công.
Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị trong lĩnh vực y tế. Chi hoạt động thường xuyên là các nội dung chi nhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường của công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Theo tính chất chi, chi hoạt động thường xuyên có thể phân biệt thành hai nội dung chi: thứ nhất là chi cho công tác y tế dự phòng và thứ hai là chi trực tiếp cho công tác khám chữa bệnh. Chi cho công tác y tế dự phòng là chi cho các hoạt động mang tính chất ngăn ngừa, phòng chống dịch bệnh, bệnh tật một cách tích cực, chủ động .Chi cho công tác khám chữa bệnh là các chi phí cần thiết cho máy móc thiết bị, thuốc men, máu, dịch truyền, vật tư… phục vụ trực tiếp và bị tiêu hao trong quá trình điều trị trực tiếp cho người bệnh.
Ngoài ra trong chi thường xuyên còn các nội dung chi đào tạo cán bộ y tế, cho nghiên cứu khoa học. Theo Luật Ngân sách được Quốc hội thông qua năm 2002, tại 9 z cấp tỉnh việc quản lý và phân bổ ngân sách y tế thuộc quyền của UBND tỉnh uỷ nhiệm cho Sở Tài chính. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các tỉnh đều thực hiện theo phương thức nêu trên mà tại nhiều tỉnh vẫn áp dụng việc quản lý ngân sách y tế theo ngành như tinh thần của Nghị định 01/99 về y tế địa phương, tức là Sở Y tế chịu trách nhiệm phân bổ và quản lý ngân sách cho các đơn vị trong ngành y tế trên địa bàn tỉnh.