CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Vấn đề nghiên cứu Đời sống người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng và đa dạng (Báo điện tử Chính phủ, 2014; Dân Việt, 2014; Lâm Đồng, 2014; Hậu Giang, 2015), người dân do đó quan tâm nhiều hơn đến chất lượng dịch vụ khám và chữa bệnh. Vì vậy, mức độ hài lòng của người bệnh là một yếu tố rất quan trọng trong vấn đề chăm sóc sức khỏe, và nó trở thành một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của các bệnh viện tại Việt Nam (Trương Ngọc Hải và cộng sự, 2011; Nguyễn Vũ Thanh Nhã và cộng sự, 2011). Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại Việt Nam, hay cụ thể hơn là tại TP.
Hồ Chí Minh, các bệnh viện công hiện đang bị quá tải, một giường chứa đến 2-3 người (Dân Trí, 2014; Tiền phong, 2014; VnExpress, 2014). Trước hiện trạng trên, vào năm 2013 Bộ Y tế đã ra thông tư 19/2013/TT-BYT để yêu cầu các bệnh viện thực hiện quản lý dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Theo thông tư, các giám đốc bệnh viện có trách nhiệm triển khai, tổ chức quản lý chất lượng bệnh viện, bố trí kinh phí cho các hoạt động quản lý chất lượng. Nhằm đưa ra một cách tiếp cận mới, tìm hiểu hiệu quả áp dụng quản lý chất lượng khám chữa bệnh của các bệnh viện đa khoa tuyến Trung Ương tại TP.
Hồ Chí Minh sau hai năm áp dụng quản lý chất lượng và đồng thời đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Phân tích sự hài lòng của bệnh nhân đối với các bệnh viện tại TP. Hồ Chí Minh theo mô hình thứ bậc của Brady và Cronin”. Bên cạnh đó, việc đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân giúp chỉ ra cho nhà quản lý các cơ sở y tế biết được những khía cạnh cần đầu tư phát triển, tránh được rất nhiều lãng phí về nhân lực, tiền bạc, thời gian… 1.2 Câu hỏi nghiên cứu Để đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân, cần phải nhận dạng được các nhân tố tác động. Câu hỏi đặt ra là các nhân tố nào tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân về dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện? Liệu có sự khác biệt giữa mô hình được đề xuất trong lý thuyết với mô hình trong thực tế tại TP.
Hồ Chí Minh? Và cần phải làm gì để -1- nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân tại các bệnh viện đa khoa tuyến Trung Ương tại TP. Hồ Chí Minh? 1.3 Mục tiêu nghiên cứu Dựa vào các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra bên trên, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đó là: (i) Nhận dạng các nhân tố tác động đến sự hài lòng đối với dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân điều trị nội trú ở các bệnh viện đa khoa tuyến Trung Ương tại TP. Hồ Chí Minh; (ii) Phân tích các nhân tố đã nhận dạng để xác nhận mô hình sự hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh trong thực tế; (iii) Đề xuất giải pháp giúp nâng cao sự hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân tại các bệnh viện trên.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Với 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đề cập, đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các yếu tố tác động đến sự hài lòng của bệnh nhân, và phạm vi nghiên cứu chỉ gói gọn trong các bệnh viện đa khoa tuyến Trung Ương tại TP. Hồ Chí Minh.
Đề tài nghiên cứu sẽ khảo sát các đối tượng đang hoặc đã từng khám chữa bệnh nội trú tại các bệnh viện đa khoa tuyến Trung Ương trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 2015.5 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, phỏng vấn trực tiếp, để tìm hiểu sự phù hợp và điều chỉnh lại các thang đo được rút ra từ các nghiên cứu trước. Dựa vào thang đo đã điều chỉnh, bản câu hỏi định lượng được phát ra cho các bệnh nhân đang điều trị tại một số bệnh viện trực thuộc Trung Ương tại TP. Hồ Chí Minh để khảo sát.
Kết quả sau khi khảo sát được nhập liệu và phân tích thông qua phần mềm SPSS để đưa ra các kết quả và mô hình phù hợp với thực tế. Chi tiết về phương pháp nghiên cứu và các quá trình phân tích được đề cập cụ thể trong chương 3.6 Tổng quan về thị trường Vào thời kỳ bao cấp từ 1975-1989, các bệnh viện ở miền Nam được trả lại cho nhà nước quản lý (Đặng Phong, 2014). Công tác khám chữa bệnh khi này thực hiện theo chỉ tiêu được giao, bệnh nhân không cần quan tâm về kinh phí, mọi chi phí khám chữa bệnh được Nhà nước chi trả (Tuổi trẻ, 2004). Chính sách này có mặt tốt cũng như hạn chế.
Khi viện phí được đặt hoàn toàn dưới sự hỗ trợ của Nhà nước, bệnh nhân sẽ được chữa trị hoặc phẫu thuật ngay khi cần thiết, không cần quan tâm đến khả năng thanh toán các khoản phí điều trị, tuy nhiên, tiếng nói của bệnh nhân vào thời kỳ này không được xem trọng. Bệnh nhân gần như không có tiếng nói đối với các bệnh viện. Chất lượng khám chữa bệnh khi này chỉ được đánh giá đơn thuần về chất lượng chuyên môn (Lê Thị Kim Ngân và Lê Thị Thu Trang, 2014). Ngày nay, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, bên cạnh các bệnh viện và phòng khám tư nhân là sự có mặt của các bệnh viện quốc tế lớn, trong đó có cả bệnh viện mang tiêu chuẩn 05 sao như Vinmec ở Hà Nội và Thành Đô ở TP.
Hồ Chí Minh, với cam kết cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế (VnMedia, 2012; Báo đầu tư, 2014). Nhờ đó, bệnh nhân được cung cấp nhiều lựa chọn hơn, tiếng nói của bệnh nhân ngày càng được xem trọng, chất lượng khám chữa bệnh khi này được đánh giá rộng ra thành chất lượng dịch vụ, không còn gói gọn ở chất lượng chuyên môn như trước kia (Lê Thị Kim Ngân và Lê Thị Thu Trang, 2014). Cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường, cách cư xử của các nhân viên trong bệnh viện với bệnh nhân… do đó cũng được đưa vào để đánh giá chất lượng của bệnh viện. Theo cục quản lý khám chữa bệnh – Bộ Y tế, tính đến năm 2015, Việt Nam có 1,349 bệnh viện, trong đó 87.3% là các bệnh viện công.
Các bệnh viện công do ngành y tế quản lý gồm 1,148 bệnh viện và được chia thành 03 tuyến: Trung Ương, tỉnh và huyện, theo tỷ lệ 1:10:18. Trên cả nước hiện nay có 38 bệnh viện Trung Ương (Cục quản lý khám chữa bệnh, 2015; Tuổi trẻ, 2015). Từ nhiều năm nay, các bệnh viện công, đặc biệt là các bệnh viện tuyến Trung Ương luôn rơi vào tình trạng quá tải, một giường chứa đến 2-3 người hoặc thậm chí có bệnh nhân còn phải nằm dưới gầm giường (Dân Trí, 2014; Tiền phong, 2014; VnExpress, 2014; Tuổi trẻ, 2015). Công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện công lên đến trên 110% (Tiền phong, 2014).
Theo thông tin từ Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh, hiện tại thành phố có 103 bệnh viện, trong đó có 67 bệnh viện công và 36 bệnh viện tư nhân, với tổng cộng hơn 34.500 -3- giường bệnh (Thanh Niên, 2014). Trực thuộc Sở Y tế thành phố gồm 32 bệnh viện thành phố, 23 bệnh viện tuyến quận huyện, 24 trung tâm y tế và 322 trạm y tế phường xã; số bệnh viện trực thuộc Trung Ương chỉ khoảng 06 bệnh viện (Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh; Bộ Y tế, 2014; Nguyễn Tấn Dũng, 2014a, 2014b; Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh, 2015).
Tương tự như các địa phương khác, bệnh viện tại TP. Hồ Chí Minh cũng được chia theo chuyên khoa như sản-phụ khoa, nam khoa, nhi, mắt, răng- hàm-mặt, tai-mũi-họng, ung bướu, cơ-xương-khớp, tim mạch, da liễu, huyết học, tâm thần, ngoại thần kinh, lao… hoặc đa khoa. Các bệnh viện đa khoa thuộc Trung Ương tại thành phố cũng không nhiều, bao gồm bệnh viện Chợ Rẫy và Thống Nhất trực thuộc bộ Y tế (Bộ Y tế, 2014), bệnh viện Quân Y 175 trực thuộc bộ Quốc phòng (Nguyễn Tấn Dũng, 2014b), và bệnh viện 30 Tháng 4 trực thuộc bộ Công an (Nguyễn Tấn Dũng, 2014a). Hàng năm, ngành y tế thành phố đã khám cho hơn 31 triệu lượt người và điều trị nội trú cho hơn 1,4 triệu bệnh nhân, trong đó số lượng bệnh nhân từ các tỉnh khác chiếm khoảng 40% (Vietnamplus, 2014).
Nhờ vào sự phát triển về y học của Vệt Nam nói chung và tại TP. Hồ Chí Minh nói riêng, không chỉ người dân thành phố, người dân ở các tỉnh khác, mà cả người dân của các nước lân cận như Lào, Campuchia cũng đến đây để thăm khám và điều trị bệnh. Nhìn chung, do sự xuất hiện của các bệnh viện tư nhân, quốc tế…, tiếng nói của bệnh nhân ngày càng được xem trong, và đồng thời bệnh nhân ngày càng yêu cầu cao hơn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Trong khi đó, số lượng bệnh viện công hiện nay không đủ để đáp ứng cho số lượng lớn các bệnh nhân trong địa phương cũng như từ những nơi khác đến.
Đặc biệt đối với ngành y, nơi mạng sống của bệnh nhân được giao phó hoàn toàn cho bệnh viện, thì chất lượng khám chữa bệnh là một yếu tố vô cùng quan trọng. Do vậy, cần xem xét sự hài lòng của bệnh nhân về chất lượng dịch vụ tại các khu y tế công cộng này, từ đó đưa ra những biện pháp cần thiết để cải thiện.1 Các khái niệm nghiên cứu Trong thời kỳ bao cấp, chất lượng khám chữa bệnh chỉ được đánh giá dựa trên chất lượng chuyên môn (Lê Thị Kim Ngân và Lê Thị Thu Trang, 2014). Theo tác giả Lê Dân và cộng sự (2012), chất lượng chuyên môn hay chất lượng kỹ thuật là kết quả của quá trình khám và chữa bệnh, người bệnh khi này chỉ quan tâm đến việc bác sĩ có tìm ra được bệnh của họ, có cung cấp cho họ một số thông tin về bệnh trạng, và tình trạng sức khỏe sau điều trị có cải thiện hay không. Khi chế độ bao cấp bị xóa bỏ, người dân được tự do hơn trong việc lựa chọn nơi thăm khám và điều trị.
Bên cạnh các bệnh viện nhà nước, các bệnh viện tư nhân không ngừng phát triển, cạnh tranh giữa các bệnh viện đã thúc đẩy dịch vụ khám chữa bệnh ngày càng được cải thiện.