Chương 1, bài viết sẽ giới thiệu chung các nội dung tổng quan của nghiên cứu. Lý do chọn đề tài, xác định vấn đề nghiên cứu, trình bày sơ lược về tổng quát các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp của nghiên cứu, cũng như trình bày các nội dung, kết cấu của luận văn, những đóng góp của luận văn mang lại. Lý do chọn đề tài Trong thời gian gần thập kỷ trở lại đây, nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biến động và phát triển với nhiều thành tựu vượt bậc ở tất cả các lĩnh vực và ngành nghề, nhất là ngành công nghiệp dịch vụ, được xem là ngành công nghiệp không khói và thời gian hình thành phát triển chưa lâu nhưng lại có tốc độ phát triển mạnh nhất, phù hợp với xu hướng hiện đại của thế giới. Xuất phát từ nhu cầu về chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao, ngoài những nhu cầu cơ bản về ăn mặc, nhà ở và đi lại thì các yêu cầu về cải thiện sức khỏe và và nâng cao chất lượng đời sống, tận hưởng cuộc đời của con người ngày càng được chú trọng cũng là một nhu cầu thiết yếu được xem trọng hàng đầu của thời đại.
Theo xu hướng phát triển của thời đại và nền y học hiện đại thì dịch vụ ngành chăm sóc sức khỏe và y tế công cộng được xem là một ngành hiện đại trọng yếu của mọi quốc gia trong lĩnh vực cải thiện chăm sóc và cải thiện sức khỏe người dân của mình, thể hiện trình độ, tri thức và sự phát triển, lớn mạnh, vững chắc của quốc gia đó. Do nhu cầu phát triển của xã hội và nhu cầu được sống tiện nghi và hiện đại hơn, hiện nay người dân khi đến bệnh viện ngoài việc hy vọng được điều trị khỏi bệnh mà còn yêu cầu về chất lượng phục vụ trong quá trình khám, điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe tại đây. Ở nước ta hiện nay, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng cao, để nâng cao chất lượng phục vụ 1 và bảo vệ một cách tốt nhất cho sức khỏe nhân dân ngành y tế nước nhà cũng đang nỗ lực và đề ra những tiêu chí, mục tiêu cụ thể để đạt được sứ mệnh trong công tác bảo vệ, nâng cao sức khỏe và đời sống người dân nước ta. Đặc biệt với các chính sách về y tế được xã hội hóa của Nhà nước đã mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân có thể triển khai và xây dựng ngày càng nhiều các bệnh viện ngoài công lập, của tư nhân bên cạnh đó hệ thống bệnh viện công cũng được Nhà nước quan tâm, cải cách và đề ra thang đo đánh giá SHL của bệnh nhân trong quá trình tham gia khám bệnh và điều trị bệnh tại các cơ sở y tế.
Trên thực tế cho thấy, để đáp ứng nhu cầu của người dân về khả năng được nâng cao và chăm sóc sức khoẻ khi đến bệnh viện thì hoạt động khám bệnh và chữa bệnh tại các cơ sở y tế thể hiện thông qua việc phát triển về cơ sở vật chất, hạ tầng của bệnh viện, việc được trang bị các máy móc thiết bị hiện đại và thể hiện qua trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ, thái độ phục vụ của nhân viên y tế,…. Căn cứ vào tài liệu báo cáo chương trình hành động của bệnh viện Đa khoa Tây Ninh năm 2020: “Tại Tây Ninh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh hiện nay là bệnh viện công lập hạng 2, thuộc Sở Y tế Tây Ninh quản lý. Hiện có 27 khoa phòng, gồm: 7 phòng chức năng, 15 khoa lâm sàng, 05 khoa cận lâm sàng; đội ngũ cán bộ y tế của bệnh viện với hơn 800 cán bộ, công nhân viên chức trong đó có bác sĩ là hơn 142 bác sĩ. Với quy mô hơn 500 giường bệnh, Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh là bệnh viện công lớn nhất và hiện đại nhất tại địa phương, mỗi năm khám chữa bệnh cho gần 70.000 lượt bệnh nhân trong đó số bệnh nhân điều trị nội trú đạt 68.050 lượt bệnh nhân”.
Thực tế trong những năm qua, thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp nâng cao đời sống và sức khỏe cho nhân dân tại Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới”. Lãnh đạo các cấp và Lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh đã đề ra nhiều chiến lược cải thiện chất lượng chăm sóc, phục vụ người bệnh, các hình thức nâng cao sức khỏe cũng được cải cách, tổ chức nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của người 2 bệnh hỗ trợ cải thiện SHL, đồng tình của người bệnh. Đã có không ít các nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh nhằm đề ra các chiến lược, các giải pháp cho mục tiêu trên, mặc dù vậy, cho đến ngay lúc này vẫn chưa có tác giả nào thực hiện nghiên cứu về SHL của những người bệnh về các hình thức trong điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh. Với những lý do trên, bài viết chọn thực hiện nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân đối với dịch vụ điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh”.
Để từ đó phân tích các nhân tố nào có tác động tích cực đến SHL của bệnh nhân điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh làm tiền đề, đề xuất các biện pháp giúp các cơ quan chức trách, lãnh đạo ngành y tế địa phương và tại bệnh viện có chương trình, đề án cải thiện CLDV của bệnh viện, cải thiện SHL của người bệnh trong khi điều trị nội trú tại bệnh viện. Các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Tại Việt Nam Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim Ngân, Lê Thị Thu Trang (2013), “nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ về đánh giá mức độ hài lòng về CLDV của bệnh nhân điều trị nội trú tại đây. Kết quả triển khai thực hiện trên 100 người với các tác nhân: đáp ứng, qui trình thủ tục, chất lượng trong quá trình khám bệnh và điều trị bệnh cho người bệnh, hiệu quả trong quá trình chăm sóc và dịch vụ và chất lượng vệ sinh - ăn uống cho thấy điểm trung bình đáp ứng về bảng chỉ dẫn đến các phòng ban, khoa rõ ràng, cụ thể đạt 3,54 điểm cao nhất trong các yếu tố về SHL bệnh nhân và thấp nhất là đáp ứng thực đơn của căn tin phù hợp với tình trạng bệnh lý 2,92 và thủ tục đơn giản là 2,93.
Nghiên cứu đề xuất các biện pháp cải tiến CLDV về cung ứng các món ăn đảm bảo đủ dinh dưỡng, hợp lý cho người bệnh; nâng cao khoa học - công nghệ - thông tin vào các thủ tục thanh toán viện phí, nhập và xuất viện, tăng cường các điểm đón và tiếp nhận bệnh trong giờ cao điểm”. Đề tài của tác giả Nguyễn Ngọc Phước (2014), nghiên cứu thực hiện tại Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai, nghiên cứu về “đánh giá sự hài lòng của 3 bệnh nhân nội trú và người nhà bệnh nhân về chất lượng dịch vụ y tế” cho thấy có 84,1% người được khảo sát có thể hiện SHL về CLDV y tế và chỉ có 15,9% người được khảo sát là không hài lòng mà theo nghiên cứu lý do không hài lòng đến từ những yếu tố về các yếu tố mô tả về thái độ trong quá trình phục vụ của nhân viên bệnh viện. Tác giả Nguyễn Ngọc Phước đã đưa ra các ý kiến, kiến nghị các giải pháp cải thiện dịch vụ, hoàn thiện các thiếu sót và cải thiện SHL thông qua đào tạo về chuyên môn và tập huấn kỹ năng mềm cho đội ngũ y tế đồng thời đầu tư việc cải tiến hạ tầng vật chất, trang thiết bị y tế hiện đại, thiết bị, dụng cụ dùng trong quá trình khám bệnh và điều trị bệnh cho bệnh nhân; ngoài ra phải cần chú trọng công tác nâng cao sức khỏe cho người bệnh. Nâng cao giá trị bệnh viện thông qua cung cách phục vụ khách hàng của bệnh viện, nhất là thể hiện qua những quan tâm, chăm sóc, sẻ chia và tận tâm với bệnh nhân, thể hiện tính chuyên nghiệp và hiện đại, thể hiện sâu sắc tính y đức và đạo đức nghề nghiệp của ngành nghề mang tính đặc thù”.
Đề tài của tác giả Dương Văn Lợt và cộng sự (2016) “thể hiện nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến SHL của người bệnh nội trú tại TTYT của huyện miền núi tỉnh Kon Tum với quy mô khảo sát 240 mẫu, kết quả đề tài của tác giả đã phản ánh SHL của đối tượng là bệnh nhân nội trú đạt khá cao, từ 4,1 - 4,3 điểm và tỷ lệ SHL so với kỳ vọng của người bệnh chung là 89%. Tỷ lệ SHL của người bệnh nội trú đối với Khả năng tiếp cận đạt 95%; Đối với Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám chữa bệnh đạt 96,67%; Đối với cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ người bệnh đạt 90,83%; Thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên y tế đạt tỷ lệ 94.58%; Đối với Kết quả cung cấp dịch vụ đạt tỷ lệ rất cao 95,42%. Bên cạnh đó, tỷ lệ hài lòng của người bệnh nội trú lần đầu tiên thấp hơn so với người bệnh nội trú từ 2 lần trở lên; tỷ lệ hài lòng của người bệnh nội trú là người thuộc diện hộ nghèo cao hơn so với người bệnh không thuộc diện hộ nghèo; tỷ lệ hài lòng của người bệnh nội trú là có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên thấp hơn so với người có trình độ học vấn cấp tiểu học cao và người không biết chữ”. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lưu Hồng (2018), tác giả sử dụng tiêu chí thang đo theo Quyết định số 4448/QĐ-BYT của Bộ Y tế để đánh giá CLDV nội trú tại 4 Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Trị được thực hiện trên 180 mẫu quan sát, dựa trên bảng câu hỏi đo lường sự hài lòng gồm các thành phần: về khả năng của sự tiếp cận, sự minh bạch trong thông tin cung cấp, cơ sở hạ tầng vật chất, thái độ nhân viên và năng lực đội ngũ bác sĩ, kết quả quá trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng.