Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm chung về Y học cổ truyền Y học cổ truyền ra đời rất sớm cùng sự phát triển của xã hội loài người, trong cuộc đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật để duy trì tồn tại dân tộc, YHCT đã phát triển đóng một vai trò nhất định trong việc CSSKND. Y học cổ truyền: Là một phương pháp chữa bệnh bằng cách dùng thuốc Nam, thuốc Bắc hoặc các phương pháp không dùng thuốc của YHCT. Y học cố truyền có chức năng chữa bệnh, phòng bệnh, nâng cao sức khoẻ và tuổi thọ cho mọi người.
YHCT bằng phương pháp tiếp cận người bệnh riêng của mình, coi trọng tính chính thể lấy việc lập lại thăng bằng của cơ thế là mục tiêu, đã giúp người bệnh phát huy được năng lực nội sinh, tính chủ động trong chữa bệnh, góp phần hạn chế được những bất cập của YHHĐ. Đặc biệt các phương pháp điều trị của YHCT (như dùng thuốc Đông y, châm cứu, xoa bóp.)do đã được đúc rút, tổng kết trong những môi trường nghiên cứu thực nghiệm, đặc biệt về không gian (trên những khu vực rộng lớn, hàng triệu người) thời gian (hàng ngàn năm) chiều sâu (con người toàn diện) nên có tính an toàn cao, ít gây độc cho cơ thể con người, được nhiều thầy thuốc và bệnh nhân hoan nghênh, tín nhiệm, tin dùng. YHCT trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân một số nước trên thế giới Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ngày nay người ta càng nhận rõ vai trò quan trọng của việc sử dụng YHCT trong CSSK, chính vì thế nhiều quốc gia đã đặt ra vấn đề kết hợp YHHĐ với YHCT trong CSSKBĐ. Không chỉ các nước Châu Á và các nước nghèo mà ngay cả những nước phát triển YHCT cũng được sử dụng rộng rãi.
YHCT đã góp phần tích cực trong chăm sóc, BVSK nhân dân, những kinh nghiệm quý báu trong nuôi trồng, sử dụng bài thuốc hay, cây thuốc quý hoặc các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc được lưu truyền từ đời này qua đời khác, được kế thừa chọn lọc phát huy, phát triển đóng góp vào kho tàng Đề tài; Đánh giá thực trạng sử dụng YHCT tại 8 TYT xã, phường đạt chuẩn Quốc gia của TPTH năm 2007. Luận vdn tốt nghiệp Thạc sỹ 6 Đại học Y té Công Cộng Hà Nội của thế giới. Mặc dù có những thăng trầm theo lịch sử phát triển của nền kinh tế, văn hoá và y tế ở mỗi quốc gia. Song những đóng góp to lớn của YHCT đổi với sức khoẻ nhân loại ngày càng được thừa nhận [26].
WHO đã nhận định về lợi ích của YHCT trong CSSKND “Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn và rẻ tiền hơn để sử dụng nhiều hơn” [34]. Trong 3 năm nghiên cứu (2002 - 2005) ngày 16/ 5/2002 WHO đã đưa ra khuyến cáo chung cho các nước trên thế giới về việc điều trị kết họp YHCT và YHHĐ trong CSSK cộng đồng với 3 mục tiêu chung: Một là: Kết họp YHCT và YHHĐ để phát triển và hoàn thiện các chương trình chính sách y tế Quốc gia. Hai là: Đảm bảo sử dụng YHCT trong đó có cả sử dụng thuốc YHCT an toàn, hiệu quả và phù họp. Ba là: Tổ chức nghiên cứu, thu thập những kinh nghiệm, sử dụng các biện pháp điều trị bằng YHCT, duy trì và bảo tồn nền YHCT của các Quốc gia.
Cải thiện các phương pháp điều trị bằng YHCT. Mục tiêu WHO về YHCT là làm cho YHCT được phổ cập, nhất là đối với người nghèo [29]. WHO cũng đã xác định 45 bệnh có thể chữa bằng châm cứu. WHO đã biến những mục tiêu trên trở thành hiện thực là việc mở các khoá đào tạo Lương y ở các nước: Lào, Mông cổ, Philippin và các quần đảo Tây Thái Bình Dương, nhằm sử dụng những Lương y đã được đào tạo như là người giáo dục sức khoẻ, cung cấp dịch vụ CSSK ban đầu.
Mặt khác nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu về YHCT cho các nước bằng cách thông qua việc tổ chức hội thảo khu vực, các khoá đào tạo và những học bổng đào tạo chuyên gia về lĩnh vực YHCT [25], Đây chính là tác động tích cực từ phía nhà quản lý, người cung cấp dịch vụ, còn đối tượng sử dụng dịch vụ đó chính là người dân, họ đã sử dụng YHCT trong CSSK như một phương pháp không thể thiếu được trong Đề tài; Đánh giá thực trạng sử dụng YHCT tại 8 TYT xã, phường đạt chuẩn Quốc gia của TPTH năm 2007. Luận vdn tốt nghiệp Thạc sỹ 7 Đại học Y té Công Cộng Hà Nội đời Sống hàng ngày. Một nghiên cứu cho thấy có hon 80% dân số Châu Phi được giáo dục và CSSK từ những người cung cấp dịch vụ YHCT [40]. Phụ nữ Chilê đánh giá cao vai trò của thuốc YHCT, họ không những chọn dịch vụ YHCT của nước bản địa để CSSK sinh sản cho mình mà còn đến với các thầy thuốc YHCT Trung Quốc.
Theo nhóm tác giả nghiên cứu ở Israel cho thấy: những người di cư Yêmen trên 60 tuổi thường xuyên sử dụng phương pháp chữa bệnh bằng YHCT (2/3 trường hợp) và 1/3 trường hợp biết điều trị bằng YHCT [42].000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc, hàng năm có gần 2,5 triệu người điều trị bằng YHCT Trung Quốc.600 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc và có hơn 7.000 cán bộ châm cứu. Như vậy, có thể coi Trung Quốc là “cái nôi” của YHCT nhân loại, là một trong những trung tâm lớn về YHCT của thế giới. Không những thế, hiện nay chính phủ Trung Quốc đã thực hiện thành công chiến lược phát triển hiện đại hoá nền YHCT xây dựng các cơ sở nghiên cứu về YHCT nhằm bảo tồn và phát huy những kinh nghiệm của người xưa để lại, vì thế chất lượng khám chữa bệnh bằng YHCT ngày càng được nâng cao. Hiện nay, dịch vụ CSSK dựa trên YHCT của Trung Quốc đã đạt trên 40% và cứ một hiệu thuốc tân dược có 1,1 hiệu thuốc YHCT.
Qua thực tế có tới 95% bệnh viện ở Trung Quốc có khoa YHCT. Hàng ngày điều trị cho khoảng 20% bệnh nhân ngoại trú [41]. Nền YHCT của Trung Quốc có ảnh hưởng sâu sắc tới nền YHCT của nhiều quốc gia khác như: Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, v. Tuy nhiên, mỗi quốc gia thì YHCT lại có những sắc thái riêng.
Đây chính là yếu tố thế hiện bản sắc văn hoá riêng của các quốc gia ở Châu Á. Năm 2005 tại hội nghị phát triển YHCT của Trung Quốc cho biết nền YHCT Trung Quốc được hơn 120 quốc gia trên thế giới chấp nhận. Như vậy YHCT của Trung Quốc đã thực sự góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nền Y học trên thế giới. Đề tài; Đánh giá thực trạng sử dụng YHCT tại 8 TYT xã, phường đạt chuẩn Quốc gia của TPTH năm 2007.
Luận vdn tốt nghiệp Thạc sỹ 8 Đại học Y té Công Cộng Hà Nội Ở Án Độ các hệ thống YHCT là Ayurveda, Siddha, Unani, Yoga, và các hệ thống y tế Tây Tạng, tất cả đều đuợc Nhà Nước công nhận để có thể sử dụng trong các cơ sở y tế Quốc gia. Ấn Độ có hơn 108 trường đại học YHCT, có hon 500.000 thầy thuốc chữa bệnh theo YHCT, chính phủ Ẩn Độ đã đưa ra một danh sách các vị thuốc YHCT để sử dụng vào các dịch vụ y tế ban đầu. Ngoài ra Ấn Độ còn có hơn 200 bệnh viện và hơn 1.500 phòng khám YHCT và 45 loài cây thuốc đã được sử dụng ở bộ lạc Kurabi. Thái lan cũng là một nước có truyền thống lâu đời về YHCT, vào những năm 1955 đến 1980 sự phát triển của YHHĐ lấn át YHCT đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc CSSKND.
Nhận thức rõ vấn đề này từ những năm 1981 chính phủ Thái Lan có những biện pháp nhằm khôi phục lại thế mạnh vốn có của YHCT như: khấn trương thiết lập chính sách phát triển thảo mộc trên phạm vi toàn quốc, thành lập các trung tâm YHCT các tỉnh, đưa YHCT vào mạng lưới cung cấp DV điều trị CSSKBĐ cho nhân dân. Nghiên cứu về sử dụng thảo dược ở Ethiopia (Năm 2003): 35,4% người dân biết chữa bệnh bằng YHCT. Nghiên cứu sử dụng thảo dược và CSSKBĐ ở Amazon (Năm 2002): 60% phụ nữ đã ít nhất một lần dùng ,41% thường xuyên sử dụng YHCT. Như vậy, YHCT đã và đang hiện hữu trong cuộc sống của mỗi người dân ở hầu hết các Quốc gia, phát triển YHCT trong CSSK cho người dân là vấn đề được nhiều nước trên thế giới quan tâm và cho đó là một trong những yếu tố then chốt trong chương trình CSSKBĐ tại cộng đồng.
Lịch sử phát triển Y học ở các Quốc gia đều bắt nguồn từ YHCT của từng dân tộc, cho đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều có kinh nghiệm sử dụng YHCT với mức độ khác nhau và được tồn tại dưới dạng tiềm ẩn lưu truyền cả thành văn trong cộng đồng. Y học cổ truyền trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân ở Việt Nam Việt Nam là Quốc gia được đánh giá có tiềm năng phát triển về YHCT, một đất nước có rừng vàng biển bạc (3/4 núi, bờ biển dài hơn 2.000km), đa dạng về tài nguyên và nguồn cây thuốc YHCT phong phú. Đề tài; Đánh giá thực trạng sử dụng YHCT tại 8 TYT xã, phường đạt chuẩn Quốc gia của TPTH năm 2007. Luận vdn tốt nghiệp Thạc sỹ 9 Đại học Y té Công Cộng Hà Nội Trong 25 Quốc gia được tính là đa dạng về sinh học thì Việt Nam đứng thứ 16: với 10.386 loài thực vật thì có tới 3.833 loài được sử dụng làm thuốc chữa bệnh, 5.578 loài thuốc đang sản xuất kinh doanh ở Việt Nam thì có tới 1.342 loại thuốc YHCT (25%), trong đó 1.296 loại sản xuất từ cây thuốc (96,6%) và có 46 loại nguyên liệu từ động vật (3,5%) [18].
Qua đây ta càng thấy rõ vai trò to lớn của Y học cổ truyền trong công cuộc chăm sóc và BVSK cho nhân dân của ngành y tế nước ta.1 Vai trò của thuốc y học cổ truyền Vai trò của thuốc YHCT với sức khoẻ người dân Việt Nam được thể hiện: Việc dùng thuốc YHCT là cần thiết trong điều trị và CSSK nhân dân. Thuốc YHCT đóng vai trò quan trọng trong việc khám chữa bệnh và CSSK cộng đồng.