Chương 1 nhằm giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu, câu hỏi và phạm vi nghiên cứu. Chương 2 lược khảo tổng quan tài liệu về sinh kế bền vững; các nghiên cứu về sinh kế bền vững, các chỉ số về sinh kế bền vững hộ gia đình của các tổ chức như UNDP, CARE, DFID; các nghiên cứu trước và những cảnh báo của các tổ chức quốc tế về cuộc sống của người dân sau tái định cư. Tổng quan về dự án Kênh 6 Tham Lương-Bến Cát - Rạch Nước Lên. Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu; khung phân tích; chi tiết về các thông tin để xác định các khía cạnh kinh tế xã hội phát sinh và cách thức chọn các biến; cách thiết lập bảng câu hỏi, cách chọn mẫu, kỹ thuật phân tích để kiểm định các giả thiết, trình bày kết quả nghiên cứu xác định cuộc sống của người dân tốt hơn hay xấu đi và trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Chương 4 trình bày kết quả phân tích kinh tế xã hội của các hộ gia đình sau khi tái định cư, và kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ sau tái định cư. Chương 5 nêu những kết luận và hàm ý chính sách gồm có tóm lược phương pháp nghiên cứu, gợi ý một số chính sách nhằm ổn định cuộc sống của hộ sau tái định cư, hạn chế của nghiên cứu, hướng nghiên cứu mở rộng. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN KÊNH THAM LƯƠNG - BẾN CÁT - RẠCH NƯỚC LÊN Chương này cung cấp khung khái niệm để phân tích những khía cạnh của tái định cư và đời sống của người dân. Chương này chứa đựng hai phần thông tin chính.
Phần thứ nhất trình bày tổng quan các lý thuyết về sinh kế bền vững, khái niệm tái định cư, ổn định kinh tế xã hội sau tái định cư giúp làm sáng tỏ các cơ sở lý thuyết của các câu hỏi nghiên cứu và là cơ sở để thảo luận các chương tiếp theo. Phần thứ hai sẽ trình bày và tóm lược những nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện trước đây 2.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 2.1 Thu hồi đất Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này (Luật đất đai năm 2003). Tái định cư Tái định cư là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án của nhà nước, khi mà phần đất nơi ở cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi không hết, phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống, phải chuyển đến nơi ở mới. Tái định cư bao gồm tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc.
Tái định cư tự nguyện: là do nhu cầu cuộc sống người dân tự nguyện di chuyển từ nơi này sang định cư ở nơi khác. Tái định cư bắt buộc: Dự án phát triển dẫn đến những mất mát tái định cư không thể tránh khỏi, trong đó những người bị ảnh hưởng không còn lựa chọn nào 8 khác ngoài việc xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và cơ sở vật chất ở bất cứ một nơi nào khác (ADB 1995) 2.3 Luật đất đai năm 2003 và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất: Là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Hỗ trợ khi bị nhà nước thu hồi đất: Là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới. Người bị thu hồi đất: Theo Nghị định 197/2004/NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 03/12/2004: Người bị thu hồi đất là tổ chức, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị nhà nước thu hồi.
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư tại Nghị định này. Tổng thu nhập của hộ thường được thu từ một nguồn hay nhiều nguồn. Qua các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê qua các năm 2004, 2006, 2009 về dân số, nhà ở thì thu nhập được chia thành 5 nguồn: Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp: bao gồm thu do trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các họa động liên quan đến nông nghiệp. Thu nhập từ tiền công, tiền lương: bao gồm thu nhập chính 7 ngày, các công việc phụ 7 ngày, việc làm chính 12 tháng.
Thành phần thu nhập của mỗi công việc bao gồm cả tiền mặt và giá trị hiện vật nhận được các khoản: tiền công, trị giá ăn trưa, các loại phụ cấp, bảo hộ lao động có liên quan đến công việc. 9 Thu nhập ngành nghề tự sản xuất, ngành nghề cá thể đó là ngành nghề tự do, có thể mua bán, sản xuất chế biến các sản phẩm trong nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp, các chủ hộ tự bỏ vốn và gia đình có khi thuê ngoài. Thu nhập từ hưu trí, trợ cấp học bổng: thu nhập bình quân từ quỹ bảo hiểm xã hội như trợ cấp hưu trí, mất sức, các khoản trợ cấp xã hội khác và học bổng, trợ cấp giáo dục. Thu nhập khác: bao gồm tiền cho thuê nhà ở, thu từ biếu khách hàng tiêu dùng, thu nhập bình quân từ lãi cho vay mượn trong 12 tháng kể cả nhận và sẽ nhận, bao gồm các khoản tiền và giá trị hiện vật có tính chất trợ giúp đã nhận được trong 12 tháng mà không phải hoàn trả lại từ các tổ chức, cá nhân không phải thành viên của hộ, kể cả trong và ngoài nước.
KHUNG LÝ THUYẾT VỀ SINH KẾ BỀN VỮNG 2. Khái niệm về sinh kế bền vững Khái niệm sinh kế bền vững lần đầu tiên được giới thiệu bởi Brundtland Commission, Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển, thuộc đại học Oxford, năm 1987, nó đã liên kết các khía cạnh về kinh tế xã hội và môi trường sống một cách cụ thể (Krantz, 2001). Năm 1992, Robert Chambers và Gordon Conway đã đề xuất một khái niệm về sinh kế bền vững được áp dụng ở cấp độ hộ gia đình: Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cửa hàng, tài nguyên, khả năng tiếp cận) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống: sinh kế bền vững là nó có thể đương đầu và phục hồi trước tác động của những áp lực và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và tăng cường được các khả năng và tài sản của mình và cung cấp cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau; có thể đóng góp những lợi ích ròng thu được từ các hoạt động của mình cho sinh kế khác ở địa phương hay trên thế giới trong ngắn hạn cũng như dài hạn. 10 Khái niệm trên đã liên kết 3 khái niệm hiện có là năng lực, sự công bằng giữa các thế hệ và sự bền vững.
Trong các thành phần khác nhau của một sinh kế thì thành phần phức tạp nhất là danh mục các tài sản mất đi khi mà người dân xây dựng lại cuộc sống của họ. Danh mục tài sản này nó bao gồm tài sản hữu hình như cửa hàng và tài nguyên và tài sản vô hình như quyền lợi và khả năng tiếp cận (Krantz, 2001). Cho đến gần đây Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đã nghiên cứu khái niệm và cách tiếp cận mới về sinh kế bền vững. Ian Scoones, một nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển, Vương quốc Anh, đã đề xuất một định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bao gồm những khả năng và tài sản (cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống.
Sinh kế bền vững là khi mà nó có thể đương đầu và phục hồi khi trải qua những tổn thất và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và nâng cao những khả năng và tài sản của mình, trong khi không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên. (Scoones, 1998) Điểm khác biệt chính giữa định nghĩa mới này và định nghĩa trước đó của Chambers và Conway là ở chỗ nó không bao gồm những yêu cầu để một sinh kế được xem là bền vững như đóng góp lợi nhuận ròng từ các hoạt động của mình cho sinh kế của người khác. Các khung lý thuyết phân tích sinh kế bền vững Khung lý thuyết về sinh kế, hay còn được hiểu là khung lý thuyết về sinh kế bền vững được xây dựng dựa trên những công cụ được sử dụng để phân tích và cải thiện khả năng sinh kế. Khi xây dựng khung lý thuyết các nhà nghiên cứu đưa ra một số cấu trúc phân tích để thuận tiện trong việc hệ thống hóa những nhân tố khác nhau, mà nó kìm hãm hay nâng cao cơ hội sinh kế (DFID, 1999).
Có nhiều khung lý thuyết về sinh kế được sử dụng để giải thích những khái niệm về sinh kế, nhưng 11 trong khuôn khổ của luận văn này, khung lý thuyết về sinh kế bền vững của 3 tổ chức UNDP1, CARE2, DFID3 sẽ được phân tích sâu. Khung lý thuyết về sinh kế bền vững của UNDP Khung lý thuyết này tập trung vào hai chiến lược khác nhau có tên gọi là: đối phó (coping) và thích ứng. Chiến lược coping là sự đối phó trong ngắn hạn trước những cú sốc cụ thể4 , trong khi đó chiến lược thích ứng đưa đến những thay đổi dài hạn trong cung cách ứng xử trước những cú sốc hay những căng thẳng. UNDP đặc biệt chú ý đến tầm quan trọng của những công nghệ có ý nghĩa cải thiện sinh kế của người dân.
Theo Krantz (2001), thông thường những nghiên cứu của UNDP được thực hiện ở cấp độ quốc gia và vận hành những chương trình đặc biệt ở cấp độ một vùng tương đương cấp huyện. Theo UNDP có 5 bước để thiết kế, thực thi và đánh giá những chương trình sinh kế bền vững như sau: 1. Xác định sự đền bù được thực hiện dựa trên những rủi ro phải đối diện, những tài sản và những kiến thức cộng đồng mất đi 2. Phân tích vi mô, vĩ mô, chính sách mà nó tác động đến chiến lược sinh kế của người dân 3.