ĐẶT VẤN ĐỀ Thalassemia hay còn gọi là bệnh tan máu bẩm sinh, là một nhóm bệnh huyết sắc tố gây thiếu máu, tan máu di truyền. Bệnh do đột biến gen tổng hợp chuỗi globin dẫn đến giảm hoặc mất tổng hợp chuỗi globin, cấu tạo nên Hemoglobin - thành phần cơ bản của hồng cầu, đảm nhiệm chức năng vận chuyển oxy trong máu [1]. Theo số liệu thống kê của WHO - 2008, bệnh huyết sắc tố ảnh hƣởng tới 71% các nƣớc trên thế giới [2]. Liên đoàn Thalassemia quốc tế năm 2013 báo cáo có khoảng 7% dân số toàn cầu là ngƣời mang gen bệnh.000 trẻ em sinh ra bị bệnh Beta Thalassemia mức độ nặng.
Bệnh huyết sắc tố là nguyên nhân gây ra 3,4% các trƣờng hợp tử vong ở trẻ em dƣới 5 tuổi [3]. Những nghiên cứu ở nƣớc ta gần đây cho thấy, Thalassemia/bệnh huyết sắc tố thực sự là vấn đề nghiêm trọng, đe dọa chất lƣợng dân số và giống nòi. Những con số rất đáng chú và báo động nhƣ: Tất cả 63 tỉnh và 54 dân tộc đều có ngƣời mang gen bệnh Thalassemia; tỷ lệ mang gen chung trên toàn quốc ƣớc t nh là 13,8% (khoảng 13-14 triệu ngƣời [4]. Chính vì vậy, phòng chống bệnh Thalassemia đƣợc đƣa vào chƣơng trình mục tiêu dân số quốc gia [5].
Các triệu chứng của bệnh Thalassemia là thiếu máu và quả tải sắt kéo dài gây ảnh hƣởng rõ rệt đến sức khỏe và cuộc sống của bệnh nhân. Giảm năng lƣợng trong các hoạt động, thƣờng xuyên phải nghỉ học để đi khám chữa bệnh là các nguyên nhân chính khiến trẻ gặp nhiều vấn đề trong sinh hoạt, quan hệ xã hội và học tập. Một số trẻ tỏ ra bi quan, chán nản, cảm thấy mình là gánh nặng của gia đình. Theo nghiên cứu của Keskek và cs (2013) nhận thấy tỉ lệ mắc trầm cảm ở nhóm trẻ Thalassemia cao hơn rõ rệt so với nhóm trẻ khỏe mạnh [6].
Vì vậy, chất lƣợng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS) đã và đang trở 1 thành một trong các tiêu chí cần hƣớng tới khi điều trị bệnh Thalassemia tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An hiện đang quản l hơn 150 bệnh nhân nhi mắc Thalassemia trên địa bàn, và là đầu mối dự án “Phòng, chống bệnh Thalassemia tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi” tại tỉnh Nghệ An, thuộc chƣơng trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 [5]. Vì vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài “Đánh giá chất lƣợng cuộc sống và phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng của bệnh nhân nhi mắc Thalassemia điều trị tại Trung tâm Huyết học - Truyền máu Nghệ An” đƣợc thực hiện với mục tiêu sau: 1. Đánh giá chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân nhi mắc Thalassemia tại TT Huyết học - Truyền máu Nghệ An năm 2023.
Phân t ch một số yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân nhi mắc Thalassemia tại TT Huyết học - Truyền máu Nghệ An năm 2023. Tổng quan bệnh Thalassemia 1. Định nghĩa Bệnh do đột biến gen tổng hợp chuỗi globin dẫn đến giảm hoặc mất tổng hợp chuỗi globin đƣợc gọi là Thalassemia, thiếu hoặc không có chuỗi α globin gọi là Alpha Thalassemia, thiếu hoặc không có chuỗi β globin gọi là Beta Thalassemia [1]. Dịch tễ học Cho đến nay, Thalassemia đƣợc biết đến là một trong những bệnh rối loạn di truyền phổ biến nhất trên thế giới.
Theo số liệu thống kê của WHO - 2008, bệnh huyết sắc tố ảnh hƣởng tới 71% các nƣớc trên thế giới [2]. Liên đoàn Thalassemia quốc tế năm 2013 báo cáo có khoảng 7% dân số toàn cầu là ngƣời mang gen bệnh [3]. Rối loạn này đã đƣợc phát hiện nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới (ví dụ: Đông Nam Á, khu vực Địa Trung Hải, Ấn Độ và Châu Phi), nơi tỷ lệ lƣu hành ƣớc tính là 12–50% trong trƣờng hợp bệnh Alpha Thalassemia và 1–20% ở bệnh Beta Thalassemia [7],[8]. Tỉ lệ mang gen bệnh của các dân tộc dao động trong khoảng từ rất thấp 0,1% đến rất cao 40% nhƣ ở một số bộ lạc của ngƣời Ấn Độ [9].
Gần đây, số bệnh nhân Thalassemia đang gia tăng ở các khu vực khác trên toàn thế giới, bao gồm Bắc Mỹ, Bắc Âu và Đông Bắc Á, do sự gia tăng dân số di cƣ, nhƣng thiếu kiến thức toàn diện về đặc điểm dịch tễ học của bệnh Thalassemia ở các nƣớc này [10]. Tỷ lệ mắc bệnh Thalassemia trên dân số Hàn Quốc tăng từ 0,74/100. Đáng chú , tỷ lệ mắc bệnh đã tăng gần gấp đôi trong 2 năm từ 0,22/100. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc bệnh β-Thalassemia đã tăng khoảng 7,5% trong 50 năm qua [8].1 Sự phân bố bệnh Thalassemia trên thế giới [12] Năm 2017, Viện Huyết học - Truyền máu Trung ƣơng đã phối hợp với nhiều đơn vị trên toàn quốc để thực hiện đề tài nghiên cứu đặc điểm dịch tễ gen bệnh Thalassemia/huyết sắc tố tại Việt Nam.
Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên 24.147 ngƣời, đƣợc chọn trên toàn quốc, trong đó có 21.746 ngƣời có cả bố và mẹ cùng dân tộc thuộc 53 dân tộc ngƣời Việt ở 24 tỉnh thuộc 8 vùng địa lý kinh tế trong cả nƣớc. Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả 53 dân tộc đều có ngƣời mang gen bệnh Thalassemia/huyết sắc tố; với tỷ lệ dao động khác nhau tùy dân tộc. Sự phân bố tỷ lệ bệnh Thalassemia/huyết sắc tố có tính dân tộc và địa lý rõ rệt. Tỷ lệ thấp nhất ở dân tộc La Hủ (0.23%), cao nhất là ở dân tộc Raglai (88,6%), dân tộc Kinh (9,8%).
Ƣớc tính tỷ lệ mang gen Thalassemia/huyết sắc tố trung bình cho tất cả các dân tộc trên toàn quốc là 13,8% [4]. Chẩn đoán Lâm sàng Thalassemia là bệnh mạn tính. Các hội chứng và triệu chứng thƣờng gặp sau [1]: 4 - Hội chứng thiếu máu mạn. - Hội chứng hoàng đảm.
- Lách to, gan to. - Tăng sinh tạo máu phản ứng: Bộ mặt Thalassemia: phì đại các xƣơng dẹt làm biến dạng đầu, mặt nhƣ trán dô, mũi tẹt, bƣớu chẩm… - Quá tải sắt: Da xạm đen, khô; tổn thƣơng cơ quan nhƣ suy gan, suy nội tiết, suy tim… Thời gian xuất hiện: Mức độ rất nặng, gây phù thai, thƣờng ở 3 tháng cuối của thai kỳ; Mức độ nặng, trẻ có biểu hiện thiếu máu sớm khi đƣợc vài tháng tuổi; Mức độ trung bình biểu hiện khi trẻ đƣợc 4-6 tuổi; Mức độ nhẹ, triệu chứng thiếu máu rất k n đáo, có thể đƣợc phát hiện khi có các bệnh lý khác kèm theo.2 Bộ mặt Thalassemia Hình 1.3 Lách to, gan to Cận lâm sàng - Xét nghiệm công thức máu và đặc điểm hồng cầu có thể giúp hƣớng tới chẩn đoán bệnh Thalassemia [1]: + Thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhƣợc sắc. + Hồng cầu lƣới tăng. 5 + Sắt huyết thanh, ferritin tăng.
- Xét nghiệm điện di huyết sắc tố và DNA giúp chẩn đoán xác định bệnh và chẩn đoán thể bệnh. Điều trị Điều trị cơ bản: a. Truyền khối hồng cầu: - Bắt đầu truyền khi [1]: + Hb < 70g/L trong hai lần xét nghiệm cách nhau trên 2 tuần; + Hb > 70g/L - 90g/L nhƣng có các biến chứng nhƣ: Chậm phát triển, lách to nhiều, biến dạng xƣơng, sinh máu ngoài tủy. - Với bệnh nhân mức độ nặng nên duy trì huyết sắc tố trƣớc truyền khoảng 90 g/L.
- Khoảng cách các đợt truyền máu: Mức độ nặng 2 - 5 tuần/đợt; mức độ trung bình 1 - 3 tháng/đợt (để hạn chế tình trạng huyết sắc tố giảm xuống quá thấp). Thải sắt Tiêu chuẩn bắt đầu dùng thuốc thải sắt: Khi có một hoặc nhiều tiêu chuẩn sau [1]: - Ngƣời bệnh đã nhận ≥ 10 đơn vị khối hồng cầu. - Ferritin huyết thanh ≥ 800ng/ml hoặc Ferritin huyết thanh ≥ 500ng/ml và ngƣời bệnh có nguy cơ tăng t ch lũy sắt nhanh, nhƣ truyền máu định kỳ hàng tháng. - Xét nghiệm MRI gan - tim có bằng chứng quá tải sắt (LIC ≥ 5mg/g).
- Tuổi bệnh nhân: Tùy theo từng loại thuốc thải sắt. Tiêu chuẩn ngừng điều trị thải sắt: Khi ferritin < 300 ng/mL hoặc LIC < 3mg/g. Ghép tế bào gốc đồng loài: Là phƣơng pháp điều trị triệt để, có hiệu quả 6 cao. Điều trị hỗ trợ a.
Thuốc tăng tạo HbF (α2/γ2) Điều trị biến chứng: Là một phần rất quan trọng để nâng cao tuổi thọ và chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh [1]. - Hiện nay, hầu hết ngƣời bệnh Thalassemia đều có từ một đến nhiều biến chứng, phổ biến là suy các tuyến nội tiết, viêm gan (C, B), suy gan, tổn thƣơng xƣơng, suy tim,… Vì vậy, ngƣời bệnh cần đƣợc kiểm tra định kỳ, toàn diện để phát hiện sớm các biến chứng và đƣợc điều trị kịp thời, đầy đủ theo đúng phác đồ. - Điều trị suy tuyến nội tiết bằng liệu pháp bổ sung hormon. - Điều trị suy gan, viêm gan do nhiễm HBV, HCV theo đúng phác đồ đặc hiệu.
- Điều trị biến chứng xƣơng khớp bằng thuốc bổ sung canxi, vitamin D, bisphosphonate (theo phác đồ điều trị chống loãng xƣơng). - Điều trị suy tim, tăng áp lực động mạch phổi, rối loạn nhịp… theo phác đồ đặc hiệu. - Điều trị rối loạn đông máu tùy theo từng giai doạn và diễn biến cụ thể mà sử dụng phác đồ phù hợp. Chất lƣợng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân nhi và các phƣơng pháp đánh giá chất lƣợng cuộc sống 1.
Định nghĩa chung về chất lượng cuộc sống Chất lƣợng cuộc sống là một phạm trù khá rộng và là vấn đề mang nặng tính chủ quan. Không giống nhƣ GDP bình quân đầu ngƣời hoặc mức sống, cả hai đều có thể đƣợc đo trong các số liệu tài chính, kinh tế, chất lƣợng cuộc sống khó khăn hơn nhiều để thực hiện những phép đo một cách khách quan hoặc lâu 7 dài. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa: “chất lƣợng cuộc sống là nhận thức cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ đang sống, cũng nhƣ liên quan đến mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ” [13].