CHƯƠNG 1. Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone 1. Nghiện chất dạng thuốc phiện và điều trị thay thế bằng methadone Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) như thuốc phiện, morphin, heroin là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh) có thời gian bán hủy ngắn do đó thường phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương. Vì vậy, người nghiện ma túy (đặc biệt heroin) luôn dao động giữa tình trạng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và tình trạng thiếu thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồn gốc dẫn họ đến với những hành vi nguy hại cho bản thân và những người xung quanh[1].
Methadone là một chất gây nghiện có nguồn gốc tổng hợp, có khả năng tranh chấp trong quá trình gắn kết thụ thể của các CDTP, với giá thành rẻ, có thời gian bán huỷ dài (trên 24 giờ) và sử dụng theo đường uống nên được sử dụng để điều trị thay thế nghiện CDTP. Đây là một chương trình điều trị lâu dài, có kiểm soát nhằm giúp người nghiện giảm tần suất tiến tới ngừng sử dụng ma tuý, dự phòng các bệnh lây truyền qua đường tiêm chích như HIV, viêm gan B, C. Khi không còn lệ thuộc vào ma túy, bệnh nhân dần phục hồi sức khỏe, ổn định tâm lý, tham gia vào các hoạt động lành mạnh, tái hòa nhập cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống. Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau [1]: - Giảm tác hại do nghiện chích CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều CDTP.
- Giảm sử dụng CDTP bất hợp pháp và các hoạt động tội phạm có liên quan. - Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội. Điều trị methadone là một liệu trình điều trị liên tục, lâu dài trải qua nhiều giai đoạn khác nhau[3], bao gồm: Giai đoạn dò liều: Thường là 2 tuần đầu điều trị với liều khởi đầu từ 15-30mg tùy thuộc vào kết quả đánh giá độ dung nạp CDTP của người bệnh (liều trung bình là 20mg). 3 Giai đoạn điều chỉnh liều: từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài từ 1 đến 3 tháng.
Liều điều trị sẽ được tiếp tục điều chỉnh đến khi người bệnh đạt được liều có hiệu quả (là liều làm hết hội chứng cai, giảm thèm nhớ, ngăn tác dụng của việc sử dụng heroin và không gây ngộ độc). Giai đoạn duy trì, ổn định liều: được xác định khi người bệnh được sử dụng liều có hiệu quả tối ưu duy trì trong ít nhất 4 tuần liên tục. Người bệnh không tái sử dụng CDTP trong ít nhất 4 tuần liên tục. Liều duy trì hay liều có hiệu quả tối ưu, là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây khoái cảm của heroin hết thèm nhớ heroin.
Liều hiệu quả tối ưu khác nhau ở từng người bệnh, tuỳ thuộc một số bệnh lý đồng diễn, tình trạng đặc biệt (có thai, đa nghiện) và sử dụng các thuốc có tương tác với methadone. Tiêu chuẩn đánh giá liều duy trì là phù hợp khi người bệnh hết hội chứng cai; giảm đáng kể sự thèm nhớ CDTP; không tái sử dụng hoặc không còn khoái cảm (phê) khi sử dụng lại CDTP, đôi khi còn có thể gây khó chịu cho người bệnh, và không có dấu hiệu nhiễm độc [1]. Tình hình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng methadone a) Điều trị methadone trên thế giới Trên thế giới, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone (gọi tắt là điều trị thay thế bằng methadone) không phải là một trong những giải pháp mới trong hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV. Ở Hồng Kông, chương trình methadone đã được triển khai từ những năm 1970, ở Hà Lan được triển khai từ những năm 1980 và Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình này vào năm 2003.
Hiện nay, trên thế giới có ít nhất 80 quốc gia đang sử dụng phương pháp điều trị thay thế bằng methadone theo một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vào năm 2019, tính đến năm 2018, khoảng 2,5 triệu người trên toàn thế giới được điều trị methadone để giảm triệu chứng khát ma túy và hỗ trợ điều trị nghiện ma túy. Trong đó, châu Á có số lượng người điều trị methadone lớn nhất, với khoảng 1,6 triệu người, tiếp đó là châu Âu và châu Mỹ Latinh [5]. b) Điều trị methadone tại Việt Nam Tháng 4/2008, Việt Nam đã triển khai thí điểm chương trình điều trị thay thế 4 bằng Methadone (MMT) tại Thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thí điểm 2 năm. Kết quả đánh giá bước đầu Đề án triển khai thí điểm điều trị methadone tại hai địa phương này đã ghi nhận những kết quả hết sức tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội [9].
Kết quả thí điểm đã chứng minh chương trình điều trị thay thế bằng methadone là phương pháp điều trị hiệu quả đối với nghiện heroin, và đã được mở rộng trên toàn quốc. Qua 14 năm, chương trình điều trị methadone đã phát triển nhanh chóng, từ 1.735 người bệnh tại 6 cơ sở điều trị vào năm 2009 đã lên đến hơn 52.000 người bệnh với hơn 330 cơ sở điều trị tại 63 tỉnh/thành phố tính đến hết tháng 12/2022 [2]. Chương trình đã khẳng định được tính ưu việt, góp phần cải thiện sức khỏe người bệnh; giảm lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường máu, nâng cao thể lực, phục hồi về thể chất và tâm thần, cảỉ thiện về an ninh, trật tự xã hội. Chương trình đã đem lại hiệu quả về kinh tế cho người bệnh, gia đình và cộng đồng; phát triển kinh tế của gia đình, giảm chi phí của xã hội cho các vấn đề về pháp lý và y tế dành cho người nghiện… Hình 1.
Số lượng bệnh nhân điều trị methadone tại Việt Nam qua các năm [2] 5 Việc triển khai mở rộng chương trình MMT là một chiến lược quan trọng nhằm giảm lây lan HIV ở nhóm tiêm chích ma túy. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma tuý (TCMT) ở Việt Nam có xu hướng giảm dần qua các năm điển hình như năm 2020 6,3%, giảm so với tỷ lệ 9,4% năm 2015 và 7,4% năm 2018. Điều trị thay thế bằng methadone đã triển khai có ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, giúp người nghiện CDTP dự phòng lây nhiễm HIV, giảm tần suất sử dụng các CDTP, giảm các hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống bệnh nhân. Để mở rộng các cơ sở điều trị phục vụ người nghiện CDTP cần có các đánh giá sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị methadone.
Trên cơ sở đó cải thiện chất lượng điều trị để phục vụ cho bệnh nhân. Hiệu quả của chương trình điều trị methadone ở Việt Nam a) Giảm hành vi nguy cơ đối với sức khỏe của bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế trên 1000 bệnh nhân ở 6 cơ sở điều trị methadone ở Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 cho thấy một số kết quả tích cực trong việc giảm hành vi nguy cơ sức khoẻ của bệnh nhân: - Về tình trạng sử dụng các chất ma túy: việc sử dụng heroin trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị đã giảm đáng kể cả về tần suất và liều sử dụng. Tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng heroin trước điều trị là 100% giảm xuống còn 14,05% sau 6 tháng; 9,05% sau 12 tháng và 8,41% sau 24 tháng. Lúc đầu, hầu hết bệnh nhân đều sử dụng heroin với tần suất rất cao: 48,5% bệnh nhân sử dụng trên 5 lần/ngày, 41,5% sử dụng từ 3-4 lần/ngày và chỉ có 6,3% sử dụng 1-2 lần/ngày.
Tuy nhiên, sau 12 tháng điều trị, trong số bệnh nhân còn sử dụng ma túy, không có bệnh nhân nào sử dụng từ 2 lần/ngày trở lên với tần suất sử dụng chủ yếu 2-3 lần/tháng [9]. - Về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV: Cùng với việc dừng hoặc giảm mức độ sử dụng ma túy, các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị cũng đã có sự cải thiện đáng kể. Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi TCMT giảm từ 86,9% trước điều trị xuống còn 53,9% sau 6 tháng và 42,4% sau 24 tháng điều trị, tính trong số bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý. Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm nhóm bệnh nhân TCMT giảm rõ rệt chỉ còn 2% sau 24 tháng điều trị so với 21% trước khi điều trị [9].
6 Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm cũng như với bạn tình thường xuyên trước khi điều trị lần lượt là 36,3% và 92,9% đã tăng lên tương ứng là 37,5% và 95,8% sau 12 tháng; 43,9% và 96,8% sau 24 tháng điều trị. Những thay đổi tích cực này sẽ góp phần dự phòng lây nhiễm HIV từ nhóm những người TCMT sang bạn tình của họ và cộng đồng [9]. b) Cải thiện sức khỏe thể chất và tâm thần Đa số bệnh nhân có cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về thái độ cũng như cuộc sống sau một thời gian điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ trầm cảm giảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị.
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo thang đo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng được cải thiện rõ rệt sau 12 tháng đặc biệt về sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần [9]. c) Tăng khả năng tìm việc làm và tái hoà nhập xã hội Nghiên cứu của UNAIDS và FHI năm 2011 trên bệnh nhân điều trị methadone ở Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bệnh nhân tìm được công việc toàn thời gian tăng từ 42% tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu lên 54% sau 12 tháng [4]. Kết quả nghiên cứu mới đây của Lê Văn Quân và cộng sự về bệnh nhân điều trị methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Bình Thuận cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có việc làm ổn định tăng lên đáng kể, từ 46,4% tăng lên 76% [7]. Chất lượng cuộc sống 1.
Khái niệm CLCS thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các chương trình sức khỏe và chăm sóc xã hội.