Chương 1. Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiển của nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết, các khái niệm có liên quan, các lý thuyết về chất lượng cuộc sống, các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống, tác động của ô nhiểm môi trường và di cư tự do đến chất lượng cuộc sống, các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu: Quy trình nghiên cứu, xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi, phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu, kỹ thuật phân tích dữ liệu.
Kết quả nghiên cứu: Đây là nội dung chính của đề tài nghiên cứu, nội dung chương 4 chia thành nhiều phần: Thống kê mô tả đặc điểm cá nhân của đối tượng khảo sát; Kết quả so sánh sự thay đổi về chất lượng và môi trường sống ở Đức Hòa qua hai giai đoạn, phân tích cronbach’s alpha, phân tích EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và các kiểm định liên quan đến mô hình. Kết luận và khuyến nghị: Dựa vào kết quả nghiên cứu khuyến nghị những chính sách để thực hiện trong thời gian tới nhằm cải thiện cuộc sống của người lao động. HVTH: Giáp Thành Công-ME7 4 GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các khái niệm liên quan đến chất lượng cuộc sống, lao động nhập cư, một số nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Thông qua cuộc sống của người lao động nhập cư hiện nay, với những khó khăn người lao động gặp phải, từ đó rút ra được mô hình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của lao động nhập cư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đức Hòa.Các khái niệm có liên quan Theo Bộ luật lao động (2012), người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý điều hành của người sử dụng lao động. Theo Sharma (1990), chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc (thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người. Chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Theo đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS.
Di cư, (hiểu theo nghĩa rộng) là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn. Hiểu theo nghĩa hẹp di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định (Đinh Văn Thông, 2010). Quốc Hội (2003) định nghĩa di cư là sự di chuyển dân số từ quốc gia này đến cư trú ở quốc gia khác, từ đơn vị hành chính này tới cư trú ở đơn vị hành chính khác. Theo Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2009), di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú.
Một số quan điểm khác của Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2009), như sau: HVTH: Giáp Thành Công-ME7 5 GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc - Nơi đi: Còn gọi là nơi xuất cư, là địa điểm cư trú trước khi một người rời đi nơi khác sinh sống - Nơi đến: Là điểm kết thúc quá trình di chuyển, là địa điểm mà một người dừng lại để sinh sống. Nơi và địa điểm ở đây là ám chỉ một lãnh thổ, một đơn vị hành chính nhất định - Người xuất cư hay còn gọi là người di cư đi là người rời nơi đang sinh sống để đi nơi khác - Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để sinh sống 2. Đặc trưng chủ yếu của di dân Theo Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số LHQ (2009), mỗi một hiện tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, dòng.) di dân đều chứa đựng những nguyên nhân, những động cơ thúc đẩy di cư.
Bản chất xã hội và bản chất sinh học của con người trong di dân hòa huyện, tạo nên các đặc trưng mang tính quy luật. Sau đây là một số đặc trưng chủ yếu: Một là, con người có thuộc tính là vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất và tinh thần. Đặc trưng này cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân. Nơi người ta dự định di cư đến, nhìn chung phải có điều kiện sống tốt hơn về phương diện này hay phương diện khác.
Hai là, di dân liên quan chặt chẽ với độ tuổi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người trong khoảng tuổi từ 15 đến 30 chiếm đa số trong các dòng di dân. Họ có cơ hội và triển vọng lớn hơn so với các độ tuổi còn lại trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm. Ba là, trong lịch sử trước đây, nam giới có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ.
Đây có thể phần nào đó được giải thích do bản năng và sự phân công lao động theo giới tính. Song trong điều kiện xã hội hiện nay, do cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao, xu hướng nữ hóa các dòng di dân đã xuất hiện. Ở một số vùng, với một số độ tuổi, nữ giới có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam. Bốn là, trước thời kỳ mở cửa người nào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di cư lớn hơn.
Họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn về việc làm với người sở tại, dể dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài tại nơi mới. Nhưng hiện nay, ngoài những người có trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cao, HVTH: Giáp Thành Công-ME7 6 GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc còn có cả luồng di cư của những người có trình độ học vấn thấp đến tìm những việc mà người có trình độ học vấn cao không muốn làm hoặc không có thời gian làm, đặc biệt là di cư nông thôn-thành thị. Năm là, người nào ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hóa truyền thống, hoàn cảnh gia đình sẽ dể dàng thích nghi hơn với điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại.
Các lý thuyết về chất lượng cuộc sống 2. Một số quan điểm về chất lượng cuộc sống Theo nghiên cứu của Richard (2008) cho thấy, các nước phương Tây ngày nay giàu có hơn trước đây rất nhiều, họ có nhiều thực phẩm hơn, nhiều quần áo hơn, xe cộ tốt hơn, nhà cửa to đẹp hơn, nhiều kì nghỉ nước ngoài hơn, tuần làm việc ngắn hơn, công việc thú vị hơn và quan trọng là sức khỏe tốt hơn, nhưng người dân không hạnh phúc hơn so với trước đây 50 năm. Vì thế ông đã cho rằng hạnh phúc là cảm thấy điều tốt lành. Tuy nhiên, hạnh phúc bị ảnh hưởng bởi môi trường sống, ông nhấn mạnh là tính khí và thái độ của con người liên quan đến đặc tính chủ chốt của hoàn cảnh sống như: Các quan hệ, sức khỏe, các mối lo lắng về tiền bạc.
Theo Bell (trích bởi Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, 2002), chất lượng cuộc sống gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… đặc trưng bởi 12 điểm: (i) An toàn thể chất cá nhân; (ii) Sung túc về kinh tế; (iii) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (iv) An ninh quốc gia; (v) Bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; (vi) Hạnh phúc tinh thần; (vii) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (viii) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; (ix) Chất lượng đời sống văn hóa; (x) Quyền tự do công dân; (xi) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế); (xii) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm. Trong đó, ông đã nhấn mạnh nội dung An toàn và đã khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn của môi trường (nhân tạo) trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh. Lê Văn Thành (2005) cho rằng, chất lượng cuộc sống phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố dựa trên sự tổng hòa của mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống con người từ chính trị, HVTH: Giáp Thành Công-ME7 7 GVHD: PGS. Nguyễn Văn Phúc kinh tế, xã hội đến môi trường hệ thống giao thông, chăm sóc sức khỏe, an ninh, giáo dục.
Theo Nguyễn Thị Kim Thoa (2003), khái niệm CLCS thường đồng nhất với khái niệm thoải mái tối ưu. Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao CLCS là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi. Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được. Sự "thoải mái tối ưu" đó "không có sự phân biệt mức độ giữa các tầng lớp người có sự ngăn cách bởi sự sang hèn, hay địa vị trong xã hội".
Đồng thời, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường. Một cuộc sống sung túc là cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết, như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ. Đồng thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng.