ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đại trực tràng thuộc nhóm mười loại ung thư thường gặp nhất tại các nước phát triển. Đây cũng là loại ung thư gây tử vong thứ hai sau ung thư phổi. Ở Việt Nam, ung thư đại trực tràng được xếp ở nhóm năm bệnh ung thư thường gặp nhất sau ung thư phế quản, ung thư dạ dày, ung thư gan và ung thư vú ở nữ. Người Việt Nam chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên hoặc khi đi kiểm tra sức khỏe tâm lý mọi người sợ hoặc ngại soi trực tràng/đại tràng.
Trong khi nội soi đại tràng/ trực tràng là bước quan trọng giúp phát hiện ra u đại trực tràng.Vì vậy, một số bệnh nhân phát hiện mình bị ung thư trực tràng/ ung thư đại tràng , vào viện điều trị khi bệnh đã ở giai đoạn không phải mới bắt đầu mắc bệnh, làm ảnh hưởng nhiều đến kết quả điều trị và tiên lượng về bệnh.Về điều trị ung thư đại trực tràng, là điều trị đa mô thức cho thấy lợi điểm kéo dài thời gian sống thêm, giảm nguy cơ tái phát tại chỗ và di căn xa. Phương pháp điều trị chiếm tỷ lệ đa số vẫn là phẫu thuật và khả năng phẫu thuật triệt căn chiếm tỷ lệ cao. Khái niệm "chất lượng cuộc sống" (quality of life) trước đây thường chỉ nhắc đến trong lĩnh vực xã hội học. Tuy nhiên những thập kỉ gần đây, "chất lượng cuộc sống" được đề cập ngày càng phổ biến trong nhiều lĩnh vực.
Ở lĩnh vực y học, khái niệm này được cụ thể hóa - chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe - (health- related quality of life). Căn cứ định nghĩa "sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về mặt thể chất, tâm thần và xã hội", WHO đã định nghĩa "chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe" là những ảnh hưởng do một bệnh, tật hoặc một rối loạn sức khỏe của một cá nhân đến sự thoải mái và khả năng hưởng thụ cuộc sống của cá nhân đó[2],[4]. Như vậy, kết quả chăm sóc, điều trị không chỉ dưới góc độ y khoa đơn thuần mà còn ở góc độ tâm lý, kinh tế và xã hội. Để lượng hóa kết quả điều trị người ta sử dụng khái niệm "kết cục" (outcome) trong đó CLCS cũng là một kết cục của quá trình điều trị người bệnh, đặc biệt là đối với nhóm người bệnh ung thư; các phương pháp điều trị ung thư có thể loại bỏ khối u nhưng đều ít nhiều gây ảnh hưởng lên CLCS của NB trong thời gian sống thêm sau điều trị[5],[3].
Nghiên cứu CLCS cung cấp cho NB những thông tin đầy đủ và toàn diện hơn về quá trình diễn biến của bệnh cũng như tình trạng sức khỏe sau điều trị, qua đó giúp họ cân nhắc giữa các phương pháp điều trị khác nhau trước khi ra quyết định chọn lựa 1 phương pháp điều trị phù hợp cho bản thân mình, đồng thời giúp NB cải thiện khả năng thích nghi và hòa nhập với cuộc sống sau điều trị[7],[8]. Viện Phẫu thuật Tiêu hóa nằm trong Bệnh viện TWQĐ 108 hàng năm phẫu thuật cho khoảng 5.500 người bệnh có bệnh lý về tiêu hóa với khoảng 500 người bệnh ung thư đại trực tràng nhưng hiện nay chưa có đánh giá cụ thể nào về CLCS của người bệnh ung thư đại trực tràng được phẫu thuật. Với mong muốn đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh ung thư đại trực tràng sau phẫu thuật tại Bệnh viện TWQĐ 108 để có những ghi nhận cụ thể trong công tác điều dưỡng, chăm sóc, điều trị bệnh nhân ngày càng hoàn thiện. Và để trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng được tốt hơn” Tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống bệnh nhân sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại Viện Phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108” với mong muốn đóng góp những dữ liệu ban đầu làm cơ sở đề xuất những kiến nghị có giá trị, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và chăm sóc điều dưỡng hướng tới chăm sóc NB UTĐTT toàn diện tại Viện phẫu thuật tiêu hóa Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
Mô tả một số đặc điểm của bệnh nhân ung thư đại trực tràng được phẫu thuật tại Viện phẫu thuật tiêu hóa, Bệnh viện TWQĐ 108 năm 2021. Đánh giá CLCS của người bệnh Ung thư đại trực tràng sau mổ và yếu tố liên quan của các đối tượng NC. Tổng quan bệnh UTĐTT 1. Giải phẫu và sinh lý 1.
Giải phẫu Đại trực tràng Trong giải phẫu ống tiêu hóa người, đoạn cuối cùng là đại trực tràng. Toàn bộ đại trực tràng, có có chiều dài từ 1,4 - 1,8m, và chiếm 1/5 tổng chiều dài của cả ruột non và ruột già. Đoạn đại tràng to nhất là ở manh tràng với đường kính khoảng 6 - 7cm, đường kính này giảm dần rồi bé nhất ở đại tràng sigma. Bóng Trực tràng là đoạn phình to tại Trực tràng.1: Các đoạn của đại tràng và trực tràng (nguồn Adam.com) [13] Phần trên và phần dưới của Trực tràng khác biệt nhau ở chỗ: phần trên được che phủ bởi phúc mạc còn phần dưới không được che phủ bởi có phúc mạc.
Trực tràng gồm có hai lớp cơ, bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng. Bên trong Trực tràng có 3 nếp niêm mạc nhô lên tạo thành 3 nếp ngang hình lưỡi liềm trên, liềm giữa và liềm dưới. Các nhánh của động mạch mạc treo tràng dưới được tách ra từ động mạch chủ bụng và đảm nhiệm việc nuôi dưỡng đại trực tràng. Tĩnh mạch mạc treo tràng dưới được nuôi dưỡng từ máu các nhánh của Đại tràng xuống và Đại tràng Sigma.
Đại tràng phải gồm 4 nhóm bạch huyết Đại tràng. Đại tràng trái có 2 nhóm bạch huyết. Đại tràng được chi phối bởi các nhánh thần kinh tự động và cảm giác. Sinh lý Đại trực tràng Đại trực tràng có chức năng quan trọng hấp thu nước, điện giải từ thức ăn.
Nhiệm vụ này là rất quan trọng của cơ thể con người. Việc hấp thụ được chịu trách nhiệm chính với các tế bào biểu mô niêm mạc đại tràng. Ngoài ra các tế bào tuyến Lieberkuhn cũng tham gia đóng góp một phần vào sự hấp thu nhưng nhiệm vụ chính là tham gia quá trình tiết dịch [14]. Tại đại trục trang, nước được hấp thu chủ yếu thụ động theo cơ chế thẩm thấu do chênh lệch nồng độ ion Na+ trong các tế bào biểu mô niêm mạc đại tràng và lòng ruột [15].
Các hor mon chống bài niệu thúc đẩy quá trình hấp thu nước tại đây. Một trong những nguyên nhân của tiêu chảy là do quá trình hấp thu nước tại đại trực tràng bị ảnh hưởng. Các yếu tố nguy cơ UTĐTT 1. Tiền sử gia đình: Báo cáo cho thấy nguy cơ bị ung thư đại trực trạng của một người sẽ tăng gấp hai lần nếu trong gia đình có một người thân mắc ung thư đại trực trạng.
Và khoảng20% người bệnh Ung thư Đại trực tràng qua đánh giá có ít nhất một người trong gia đình đã từng bị Ung thư Đại trực tràng[22]. Đặc biệt, nguy cơ Ung thư Đại trực tràng tăng lên gấp năm lần nếu người đó có tuổi nghỏ hơn 45 và có từ hai người thân bị bệnh Ung thư Đại trực tràng [23]. Chế độ ăn uống Nguy cơ ung thư đại trực tràng tăng lên khi trong chế độ ăn uống nhiều hơn các loại thịt đỏ. Một trong những giả thuyết cho rằng do thịt đỏ chứa nhiều sắt, đây là nguyên nhân làm tăng lượng sắt huyết thanh khi ăn nhiều từ liên quan đến Ung thư Đại trực tràng.
Ngược lại, nguy cơ ung thư ruột nói chung và đại trực tràng nói riêng sẽ giảm nếu chế độ ăn của người bệnh trước đó có nhiều lượng chất xơ và giảm chất béo bão hòa. Nghiện thuốc lá So với người không hút thuốc, người nghiện thuốc lá có nguy cơ Ung thư nói chung cũng như Ung thư Đại trực tràng nói riêng và bệnh tim mạch có thể tăng lên đến 25%. Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa nguy cơ Ung thư biểu mô tuyến Đại tràng Sigma và Trực tràng với tình trạng hút thuốc trong 10 năm [26]. Mối liên quan giữa hút thuốc lá với Ung thư đại trực tràng 5 được ghi nhận có liên quan mật thiết đến số lượng và độ tuổi bắt đầu tiêu thụ thuốc lá [27].
Nghiện rƣợu Rượu đã được chứng minh có mối liên quan đến bệnh lý Ung thư Đại trực tràng. Lượng rượu nhỏ được ghi nhận cũng có thể dẫn đến Ung thư Đại trực tràng nguy cơ tăng lên nếu một người tiêu thụ rượu một ngày lớn hơn một ly [29]. Béo phì Được nhiều nghiên cứu chứng minh có liên quan đến Ung thư Đại trực tràng. Nguy cơ Ung thư Đại trực tràng tăng 7% nếu chỉ số BMI của cơ thể tăng 2 kg/m2.
Nguy cơ Ung thư Đại trực tràng tăng 4% nếu vòng eo tăng lên 2cm. Ngoài ra nguy cơ Ung thư Đại tràng tăng 1,41 lần ở nam giới và 1,08 lần ở nữ giới béo phì [30]. Lối sống ít vận động Người có lối sống ít vận động thì nguy cơ Ung thư Đại trực tràng cao hơn so với những người có lối sống vận động thường xuyên. Người thường xuyên rèn luyện, tập thể dục khoảng 1 giờ/ngày hoặc thể dục mức độ vừa 2 giờ/ngày thì nguy cơ Ung thư Đại trực tràng giảm đi 1% [32].
Bệnh viêm loét đại trực tràng Nguy cơ Ung thư Đại tràng tăng lên ở những người có một số bệnh viêm loét Đại trực tràng. Nguy cơ Ung thư Đại trực tràng tăng gấp 2 - 4 lần ở những người có hội chứng loét đại tràng chảy máu so với người không bị [36]. Bên cạnh đó nếu người mắc hội chứng viêm loét đại trực tràng chảy máu, kèm theo rò Hậu môn trực tràng thì có nguy cơ Ung thư đại trực tràng cao hơn người không có rò [37]. Yếu tố di truyền Bệnh đa polyp tuyến gia đình (Familial Adenomatous Polyposis -FAP) là một bệnh di truyền.
Nguyên nhân là do đột biến Gen APC. Khi mắc bệnh này, nhiều polyp được phát triển từ lớp biểu mô của Đại trực tràng. Các Polyp này ban đầu chúng là lành tính. Tuy nhiên, nếu các Polip này không được loại thì chúng sẽ chuyển thành ác tính và gây lên bệnh cảnh Ung thư đại trực tràng.000 người mắc đột biến APC gây bệnh FAP.
Với những người FAP được 6 khuyến cáo nên loại bỏ polyp đại tràng trước 25 tuổi, nếu không nguy cơ cao người bệnh sẽ chuyển thành bệnh lý Ung thư Đại trực tràng ở tuổi 40 [38]. Hội chứng LYNCH (HNPCC- Hereditary Nonpolyposis Colorectal Cancer) được Henry T.