Chương 1. Chương này tập trung trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan. Chương này trình bày các khái niệm về nghèo và nghèo đa chiều, các phương pháp tính nghèo đa chiều và các lý thuyết nghiên cứu thực tiễn liên quan.
Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu. Chương này tổng quan về tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nghèo đa chiều trên địa bàn phường Đông Hồ và kết quả xác định hộ nghèo đa chiều.
Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày tóm tắt những kết quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách giúp hộ dân thoát nghèo, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu Trọng tâm của chương này là cơ sở lý thuyết về nghèo và phương pháp đo lường nghèo được lựa chọn phục vụ cho quá trình nghiên cứu, khảo sát và đánh giá nghèo đa chiều tại phường Đông Hồ. Chương này cũng sẽ giới thiệu tổng quan về tình hình kinh tế xã hội tại Hà Tiên và mô tả khái quát về phường Đông Hồ để từ đó tiến hành đo lường nghèo đa chiều tại địa bàn một cách phù hợp.
Khái niệm về nghèo Nghèo là một từ mà nhiều người từng sử dụng trong giao tiếp hằng ngày để chỉ sự phân biệt với giàu. Tuy từ này được sử dụng phổ biến trong xã hội, nhưng thế nào được xem là nghèo? hay nghèo được đo lường như thế nào? vẫn còn là một vấn đề đang tranh luận trong giới khoa học hiện nay. Rowntree (1910) là một trong những người tiên phong tìm cách đo lường khái niệm nghèo. Ông đã tập trung vào đo lường nghèo bằng số tiền có được của một người để có thể đáp ứng được những thứ cần thiết cho việc duy trì thể chất thuần túy.
Với cách này, các quốc gia có thể đề xuất được mức giới hạn giữa nghèo và giàu thông qua số tiền mà một người có được trong một ngày. Những người nào có ít thu nhập thấp hơn mức giới hạn này được xem là người nghèo. Để đơn giản hóa khái niệm nghèo, Hội nghị Thượng đỉnh thế giới và phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã thống nhất “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đô la (USD) một ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” Tuy nhiên sẽ khó có thể chỉ ra một người nghèo thông qua số tiền họ kiếm được như trên. Vì có nhiều trường hợp thu nhập một ngày hầu như không có nhưng họ khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên xung quanh đảm bảo tốt cho việc duy trì và phát triển thể chất.
Hoặc theo lập luận của Đặng Nguyên Anh (2015) thì tiêu chí thu nhập không thể đo lường được nghèo và bản chất 7 của nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội, khó tiếp cận với những dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục, thông tin. Để chỉ ra được một người nghèo, Wilson (1987) đã bổ sung thêm nhiều yếu tố khác ngoài tiền, “người nghèo là người không có trình độ, kỹ năng, luôn chịu sự tách biệt về xã hội, không có khả năng tiếp cận hoặc không có được mối liên hệ với các cá nhân khác, với những thể chế đem lại cho họ nguồn lợi kinh tế và các vị thế xã hội”. Với xu hướng này, Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan, tháng 9/1993) đã thống nhất rằng “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương” hay Ngân hàng thế giới quan niệm “nghèo đói là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như giáo dục, y tế, dinh dưỡng; người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ; bị gạt ra bên lề xã hội và không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế của Nhà nước”. Tại Việt Nam, khái niệm nghèo cũng được nhiều tác giả đề cập đến.
Tuy nhiên, các tác giả đều đề cập đến khái niệm nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Để thực hiện thống nhất theo quan điểm chung, đề tài này cũng thống nhất theo khái niệm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội. Nhìn chung, những khái niệm trên chỉ dừng lại ở khía cạnh nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần đảm bảo mức sống mà vẫn chưa chỉ rõ ai là người nghèo và làm sao để đo lường một cách chính xác khái niệm nghèo. Phương pháp đo lường nghèo Nỗ lực đầu tiên để đo lường nghèo đói được thực hiện bởi Rowntree.
Ông đã thực hiện đo lường nghèo đói ở York thuộc Anh vào năm 1902. Kể từ đó, có rất nhiều nỗ lực đo lường nghèo đói ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới. Mặc dù giảm đói nghèo là một mục tiêu rất phổ biến ở mỗi quốc gia và rất được quan tâm bởi giới học giả, nhưng vẫn chưa có cách nào được chấp nhận rộng rãi để xác định ai là người nghèo. Cách đo lường nghèo chỉ với một chiều thu nhập hay chi tiêu không thể mô tả được toàn cảnh bức tranh nghèo đói của hộ gia đình (Boltvinik, 1998).
Chính vì vậy cần thiết phải có phương pháp đo lường nghèo theo nhiều chiều để có cái nhìn về nghèo của hộ gia đình rõ ràng hơn (Townsend, 1979; Streeten; 1981; Sen; 1992; Bossert, 2009). Khái niệm đa chiều dùng để đo lường nghèo được mô tả với 7 chiều: hệ thống nước sạch, nhà ở, nhà vệ sinh, giáo dục, điều kiện sống, dinh dưỡng cho trẻ em và người lớn, môi trường của khu vực sinh sống (Boltvinik, 1998). Các chỉ báo đo lường và trọng số đo lường nghèo đa chiều nêu trên được thực hiện với từng thành viên trong hộ gia đình. Nếu một hộ gia đình (tổng số thành viên đã có tính trọng số) bị tước đoạt từ 60% chỉ báo trở lên thì gọi là nghèo.
Trong đó, trọng số của từng thành viên trong gia đình được quy định như sau: 1,0 đối với người lớn, 0,5 đối với trẻ vị thành niên trong độ tuổi từ 14- 18 và 0,3 với trẻ em dưới 14 tuổi. Một số phương pháp đã được sử dụng nhiều trên thế giới với mục tiêu đo lường mức sống và nghèo đa chiều như: Phương pháp đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Poverty Assessment – PPA), chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI), chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HPI) và chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index – MPI). Phương pháp đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng PPA Phương pháp PPA thường được sử dụng để tiến hành việc nghiên cứu tại thực địa nhằm đánh giá mức nghèo đói của một quốc gia (Reardon & Vosti, 1995). Phương pháp này nghiên cứu chính sách gắn với chính sách của chính phủ, đánh giá mức độ nghèo đói theo quan điểm của người nghèo và các ưu tiên mà người nghèo nêu ra nhằm cải thiện đời sống của họ.
Phương pháp phân tích mang tính định tính trên dữ liệu thu thập được qua bảng câu hỏi điều tra hộ gia đình nhằm đánh giá đói nghèo có sự tham gia của cộng đồng là một công cụ để đưa quan điểm của người nghèo vào các phân tích nghèo đói để xây dựng chiến lược xoá đói giảm nghèo cho quốc gia. Phương pháp tính chỉ số phát triển con người HDI Chỉ số Phát triển con người HDI (Haq, 1990) là một thước đo tổng quát về phát triển con người, là trung bình cộng của (1) sức khoẻ, thể hiện một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình; (2) tri thức, được đo bằng tỷ lệ số người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục (tiểu hoc, trung học, đại học); (3) thu nhập được đo bằng GDP bình quân đầu người tính theo giá trị ngang bằng sức mua (PPP). Phương pháp chỉ số nghèo chon người HPI Chỉ số Nghèo con người HPI được đề cập trong Báo cáo phát triển con người năm 1997 (Jahan, 2002). HPI là một chỉ số tổng hợp nghèo đa chiều dựa trên đo lường sự thiếu hụt trong khả năng tiếp cận các yếu tố phát triển cơ cản của con người.
Chỉ số HPI được xây dựng năm 1997 còn được gọi là chỉ số HPI-1, được sử dụng đo lường tại các nước đang phát triển. Năm 1998 chỉ số HPI-2 được phát triển để đo lường cho các nước phát triển.1 so sánh chỉ số HPI-1 và chỉ số HPI-2.1 So sánh chỉ số HPI-1 và chỉ số HPI-2 Chỉ số đo lường HPI-1 HPI-2 Sự thiếu thốn liên quan đến sự tồn tại: bị chết Tử vong trước tuổi 40 Tử vong trước tuổi 60 sớm Tỷ lệ người lớn trong độ Liên quan đến tri thức: bị tuổi 16 – 65 thiếu các kỹ loại trừ khỏi thế giới đọc Tỷ lệ người lớn mù chữ năng biết chữ thiết thực, và giao tiếp có thể dùng để làm việc Tỷ lệ người tiếp cận với Tỷ lệ người tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, tiếp cận với nước khoẻ, tiếp cận với nước Chất lượng cuộc sống tốt sạch, tỷ lệ trẻ em dưới 5 sạch, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân và suy tuổi bị thiếu cân và suy sinh dưỡng. Tỷ lệ người dân bị thất Sự loại trừ xã hội. nghiệp lâu dài (từ 12 tháng trở lên) Nguồn: Jahan (2002).
Phương pháp đo lường nghèo bằng chỉ số nghèo đa chiều MPI Một số tranh luận về khái niệm nghèo đa chiều, như là "nghèo về nhà ở" hoặc "nghèo về sức khoẻ" hoặc “nghèo về cơ hội tiếp cận xã hội”, được coi là nghèo trong xã hội đang được diễn ra.