Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Bằng Thang Điểm SF36 Ở Bệnh Nhân Suy Thận Mạn Thận Nhân Tạo

Nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân suy thận mạn bằng thang điểm SF36. Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba.

Trường đại học

Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam Cuba- Đồng Hới

Chuyên ngành

Nghiên Cứu Khoa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2022

57
9
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

ÐẶT VẤN ÐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. BỆNH THẬN MẠN VÀ SUY THẬN MẠN

1.2. CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TRONG SUY THẬN MẠN

1.3. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

1.4. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm

3.3. Đặc điểm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ

3.4. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.3. Đặc điểm chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ

4.4. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Suy Thận Mạn

Suy thận mạn (CKD) là một bệnh mạn tính tiến triển qua nhiều giai đoạn, tác động lớn đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống (QOL) của người bệnh. Bệnh là hậu quả của sự suy giảm số lượng và chức năng nephron, làm giảm mức lọc cầu thận, dẫn đến giảm chức năng thận và cuối cùng là tăng nitơ phi protein máu. Báo cáo từ Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ năm 2019 cho thấy khoảng 15% người trưởng thành (khoảng 37 triệu người) mắc CKD, với nguyên nhân chính là đái tháo đường và tăng huyết áp. Theo nghiên cứu, ở Việt Nam số lượng bệnh nhân mắc bệnh suy thận mạn ngày càng tăng, do đó việc nghiên cứu đánh giá về chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân này là hết sức quan trọng.

1.1. Dịch Tễ Học và Gánh Nặng Bệnh Suy Thận Mạn CKD

Thống kê tại Mỹ năm 2010 cho thấy tỷ lệ bệnh thận mạn trong dân số từ 20 tuổi trở lên chiếm 6,3%. Tỷ lệ này tiếp tục gia tăng do dân số già hóa và sự gia tăng của bệnh đái tháo đường type 2. Tại châu Âu, cứ 10 người lớn thì có 1 người bị bệnh thận mạn. Ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Võ Phụng và Võ Tam tại Thừa Thiên Huế ghi nhận tỷ lệ mắc suy thận mạn chung là 0,92%. Độ tuổi trung bình mắc bệnh là 51,7 ± 16,5 tuổi. Tỷ lệ ở nữ cao hơn ở nam và tăng dần theo tuổi. Điều này cho thấy gánh nặng bệnh tật của suy thận mạn đang ngày càng trở nên đáng lo ngại.

1.2. Các Phương Pháp Điều Trị Suy Thận Mạn Giai Đoạn Cuối

Suy thận mạn giai đoạn cuối (ESRD) cần các phương pháp điều trị thay thế thận phù hợp. Ghép thận được xem là phương pháp tốt nhất nhưng nguồn cung hạn chế. Thẩm phân phúc mạc còn hạn chế. Chạy thận nhân tạo chu kỳ là phương pháp phổ biến nhất. Theo báo cáo, tại Mỹ, 90% bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối được điều trị bằng phương pháp chạy thận nhân tạo. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân chạy thận.

II. Vấn Đề Chất Lượng Cuộc Sống Bệnh Nhân Suy Thận Mạn

Bệnh nhân lọc máu chu kỳ ngoại trú thường có chất lượng cuộc sống giảm dần. Tỷ lệ này tăng lên đáng kể khi có kèm theo suy dinh dưỡng và viêm mạn (Hội chứng suy dinh dưỡng-viêm). Theo nghiên cứu, Bệnh nhân lọc máu chu kỳ có chất lượng sống kém hơn, tỉ lệ nhập viện và tử vong cao hơn so với những bệnh nhân bệnh mạn tính khác. Số bệnh nhân suy thận mạn ở Việt Nam ngày càng tăng, do đó cần quan tâm nghiên cứu đánh giá về chất lượng sống và những yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân này. Trong nước ta chưa có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu về vấn đề chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Chất Lượng Cuộc Sống Suy Thận Mạn

Ngoài chất lượng lọc máu và kiểm soát biến chứng, việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân suy thận mạn là rất quan trọng. Các yếu tố như suy dinh dưỡng, viêm mạn tính, và bệnh đi kèm có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống. Cần có các nghiên cứu sâu rộng hơn để xác định và giải quyết các yếu tố này, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

2.2. Thiếu Nghiên Cứu Chuyên Sâu Về QOL ở Bệnh Nhân STMTN

Hiện tại, chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ tại Việt Nam. Điều này tạo ra một khoảng trống thông tin quan trọng cần được lấp đầy. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá chất lượng cuộc sống, xác định các yếu tố ảnh hưởng, và phát triển các biện pháp can thiệp hiệu quả.

2.3. SF 36 Công Cụ Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống

Thang điểm SF-36 (Short Form-36) được sử dụng rộng rãi để đánh giá chất lượng cuộc sống trong nhiều lĩnh vực y tế, bao gồm cả bệnh thận. Hội Thận học Mỹ đã sử dụng SF-36 để đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân điều trị thay thế thận. Công cụ này cung cấp một đánh giá toàn diện về chức năng thể chất, chức năng xã hội, sức khỏe tâm thần và các khía cạnh quan trọng khác của chất lượng cuộc sống.

III. Phương Pháp Đánh Giá CLCS Bệnh Nhân Suy Thận Mạn SF36

Đánh giá chất lượng cuộc sống là phức tạp vì nó tùy thuộc vào một loạt các yếu tố như tâm lý, nhận thức, điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần và thể chất của đối tượng. Do tính chất đa chiều và yếu tố chủ quan trong đánh giá chất lượng cuộc sống, đánh giá sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống nên sự lựa chọn một biện pháp phù hợp có thể gặp khó khăn. Tuy nhiên việc đánh giá sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống nên sự lựa chọn một biện pháp phù hợp có thể gặp khó khăn. Một biện pháp đánh giá sức khỏe liên quan chất lượng của cuộc sống có thể là một mẫu điều tra đơn giản, chẳng hạn như một mẫu đánh giá sức khỏe chung hoặc phổ biến hơn là các mẫu được xây dựng từ một số tiêu chí hoặc một số câu hỏi định sẵn.

3.1. Khái Niệm Sức Khỏe Liên Quan Chất Lượng Cuộc Sống HRQL

Khái niệm sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống (HRQL) tập trung vào các khía cạnh của chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe. Điều này bao gồm các yếu tố về thể chất, tâm lý và hoạt động xã hội của người bệnh, cần có sự phù hợp giữa bệnh nhân và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, khái niệm sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống trong các nghiên cứu lâm sàng vẫn còn nhiều tranh cãi.

3.2. Lựa Chọn Phương Pháp Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống

Do tính chất đa chiều và yếu tố chủ quan, việc lựa chọn một phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống phù hợp có thể gặp khó khăn. Một biện pháp đánh giá HRQL có thể là một mẫu điều tra đơn giản hoặc các mẫu được xây dựng từ một số tiêu chí hoặc câu hỏi định sẵn. Các tiêu chí có thể được mở rộng theo phạm vi hay mức độ của các khía cạnh quan tâm cần được đánh giá của HRQL.

3.3. Tính Giá Trị và Tính Tin Cậy của SF 36 trong Đánh Giá

Những yêu cầu của một phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống là khả năng tái tạo và độ chính xác trong đánh giá. Cả hai khả năng tái tạo và độ chính xác của các phương pháp có thể được đánh giá căn cứ trên độ tin cậy, giá trị, sự thuận lợi, có thể thực hiện được và dễ quản lý của phương pháp đánh giá.

IV. Ứng Dụng SF36 Đo Lường Chất Lượng Cuộc Sống Bệnh Thận Mạn

Trước đây nghiên cứu sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống của bệnh nhân lọc máu trước đây mới tập trung vào các hoạt động về thể chất làm tiêu chí đo lường kết quả, chưa có những đánh giá đa chiều bao gồm các khía cạnh khác, như xã hội và tâm sinh lý. Những nghiên cứu gần đây cũng đã chú trọng đến nhận thức của bệnh nhân và phương thức điều trị là yếu tố quyết định của sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân điều trị thay thế thận. Ví dụ, một bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối với một thủ thuật cắt cụt chi có thể mô tả các hoạt động thể chất kém, nhưng ở trạng thái khác họ có một chất lượng cuộc sống tốt hơn sau khi bắt đầu lọc máu. Ngoài ra sự đánh giá có thể bị hạn chế khi không nhận được sự phối hợp tích cực của bệnh nhân, hoặc là sự lựa chọn trả lời của bệnh nhân có thể bị giới hạn.

4.1. Các Khía Cạnh Đa Chiều Của Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống

Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào các hoạt động thể chất để đo lường chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đánh giá đa chiều, bao gồm các khía cạnh xã hội và tâm lý. Nhận thức của bệnh nhân và phương thức điều trị cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

4.2. Hạn Chế Trong Đánh Giá Chủ Quan về Chất Lượng Cuộc Sống

Việc đánh giá chất lượng cuộc sống có thể bị hạn chế khi không nhận được sự phối hợp tích cực của bệnh nhân. Sự lựa chọn trả lời của bệnh nhân cũng có thể bị giới hạn, ảnh hưởng đến tính chính xác của kết quả. Điều này cho thấy cần có các phương pháp tiếp cận toàn diện và lấy bệnh nhân làm trung tâm để đánh giá chất lượng cuộc sống.

4.3. SF 36 Trong Nghiên Cứu Điều Trị Thay Thế Thận

Một nghiên cứu sử dụng SF-36 đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân điều trị thay thế thận (ghép thận, lọc máu chu kỳ, và lọc màng bụng liên tục ngoại trú) có chất lượng cuộc sống kém hơn so với các nhóm chứng bình thường. Bệnh nhân ghép thận có chất lượng của cuộc sống được báo cáo tốt hơn khi so sánh với bệnh nhân lọc máu chu kỳ hay bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú.

V. SF 36 Bí Quyết Cải Thiện Đánh Giá Bệnh Nhân Suy Thận

Nhiều nghiên cứu đã cho rằng cần tiếp cận bệnh nhân và lấy bệnh nhân làm trung tâm để đánh giá sức khỏe liên quan chất lượng của cuộc sống mà trong đó bệnh nhân tự xác định giá trị của cuộc sống. Tùy thuộc vào mục đích sử dụng, những yêu cầu của một phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống là khả năng tái tạo và độ chính xác trong đánh giá những yêu cầu đề ra. Cả hai khả năng tái tạo và độ chính xác của các phương pháp có thể được đánh giá căn cứ trên độ tin cậy, giá trị, sự thuận lợi, có thể thực hiện được và dễ quản lý.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Cách Tiếp Cận Lấy Bệnh Nhân Làm Trung Tâm

Việc tiếp cận bệnh nhân và lấy bệnh nhân làm trung tâm là rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống. Điều này có nghĩa là bệnh nhân tự xác định giá trị của cuộc sống và đóng vai trò tích cực trong quá trình đánh giá. Sự tham gia của bệnh nhân giúp đảm bảo rằng các đánh giá phản ánh chính xác trải nghiệm và nhu cầu của họ.

5.2. Tính Khả Thi và Dễ Quản Lý Của Phương Pháp Đánh Giá SF 36

Các yếu tố như tính khả thi, dễ thực hiện và dễ quản lý cần được xem xét khi lựa chọn phương pháp đánh giá chất lượng cuộc sống. Một phương pháp đánh giá hiệu quả cần phải dễ sử dụng, ít tốn kém và có thể được triển khai rộng rãi trong các cơ sở y tế khác nhau. SF-36 là một công cụ được sử dụng rộng rãi bởi tính đơn giản và khả năng thu thập dữ liệu toàn diện.

5.3. SF 36 Công Cụ Tiêu Chuẩn Hóa Trong Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống

Mẫu SF-36 cũng đã được sử dụng trong các nghiên cứu lớn như nghiên cứu đa trung tâm ở Hà Lan về liều lượng lọc máu đầy đủ (Netherlands Cooperative Study on the Adequacy of Dialysis: NECOSAD) để đánh giá những thay đổi trong sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân lọc máu. Điều này cho thấy vai trò của SF-36 như một công cụ tiêu chuẩn hóa để so sánh chất lượng cuộc sống giữa các nhóm bệnh nhân và các phương pháp điều trị.

VI. Kết Luận Tương Lai Đánh Giá Chất Lượng Sống STMTN SF36

Số bệnh nhân suy thận mạn ở Việt Nam ngày càng tăng, do đó số lượng bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cần được lọc máu cũng tăng theo. Do đó cần quan tâm nghiên cứu đánh giá về chất lượng sống và những yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân này. Trong nước ta chưa có nhiều đề tài đi sâu nghiên cứu về vấn đề chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm SF36 ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo ” nhằm 2 mục tiêu sau: 1. Đánh giá chất lượng cuộc sống bằng thang điểm SF36 ở bệnh nhân suy thận mạn thận nhân tạo chu kỳ tại khoa nội Thận – Tiết niệu bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba - Đồng Hới. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống ở nhóm bệnh nhân trên. 2

6.1. Nghiên Cứu Sâu Rộng Về Đánh Giá QOL ở STMTN VN

Việc tiếp tục thực hiện các nghiên cứu sâu rộng về đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân suy thận mạn tại Việt Nam là rất cần thiết. Điều này giúp cung cấp thông tin chính xác về tình hình chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và các yếu tố ảnh hưởng. Các nghiên cứu này có thể sử dụng thang điểm SF36 và các công cụ đánh giá khác.

6.2. Đề Xuất Các Biện Pháp Cải Thiện QOL cho Bệnh Nhân STMTN

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các biện pháp can thiệp và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân suy thận mạn. Các biện pháp này có thể bao gồm cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng cường hoạt động thể chất, hỗ trợ tâm lý và xã hội, và nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

6.3. Hợp Tác và Chia Sẻ Kinh Nghiệm Đánh Giá QOL Bệnh Thận

Cần tăng cường hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm giữa các nhà nghiên cứu, các cơ sở y tế và các tổ chức liên quan để nâng cao chất lượng đánh giá chất lượng cuộc sống và chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân suy thận mạn. Điều này giúp đảm bảo rằng các bệnh nhân nhận được sự chăm sóc tốt nhất và có chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể.

28/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. BỆNH THẬN MẠN VÀ SUY THẬN MẠN 1. Dịch tễ học Thống kê tại Mỹ, năm 2010, tỉ lệ bệnh thận mạn trong dân số từ 20 tuổi trở lên chiếm 6,3%, có 116.946 bệnh nhân bắt đầu vào bệnh thận giai đoạn cuối, nâng tổng số bệnh thận giai đoạn cuối là 594.013 bn lọc máu và 179.361 bn ghép thận). Tại châu Âu, cứ 10 người lớn thì có 1 người bị bệnh thận mạn.

Tỉ lệ BTM đang gia tăng do dân số già đi, dịch bệnh đái tháo đường type 2 trên toàn cầu.Tỉ lệ STM cần lọc máu bằng thận nhân tạo chu kỳ(TNTCK) trên thế giới tăng trung bình 7% mỗi năm, từ 426.000 bn năm 1990, đến 3 triệu người năm 2012, hiện có hơn 2,3 triệu người trãi qua ĐTTT thận [10]. Ở Việt Nam theo tác giả Võ Phụng, Võ Tam nghiên cứu điều tra trên 4323 người lớn tại các vùng khác nhau của tỉnh Thừa Thiên Huế, ghi nhận tỷ lệ mắc suy thận mạn chung là 0,92%, trong đó vùng đòng bằng là 1,0%, vùng trung du miền núi là 0,92%, và vùng đàm phá ven biển là 0,88%. Độ tuổi trung bình của suy thận mạn là 51,7 ± 16,5 tuổi. Tỷ lệ ở nữ cao hơn ở nam và tăng dần theo tuổi [4].

Nguyên nhân của suy thận mạn Ở Việt Nam, theo tác giả Võ Phụng và Võ Tam các nguyên nhân của suy thận mạn có thể được liệt kê như sau [1]: -Bệnh viêm cầu thận mạn -Bệnh viêm thận bể thận mạn -Bệnh viêm thận kẽ -Bệnh mạch máu thận -Bệnh thận bẩm sinh do di truyền hoặc không di truyền 1. Chẩn đoán suy thận mạn Chẩn đoán suy thận mạn thường dựa vào tiền sử bệnh, biểu hiện lâm sang, các xét nghiệm sinh hóa và huyết học [18]. - Dấu chứng của suy thận đã tiến triển trên 3 tháng. + Tăng ure, creatinine máu.

+ Mức lọc cầu thận giảm - Tính chất mạn tính của suy thận: + Tiền sử: Có tiền sử bệnh thận, trước đây có tăng creatinine máu + Tiêu chuẩn về hình thái: kích thước thận giảm <9cm (đường kính dọc) trên siêu âm, <3 đốt sống trên phim thận không chuẩn bị. + Tiêu chuẩn sinh học: Có 2 xét nghiệm quan trọng định hướng suy thận mạn: Thiếu máu đẳng sắc với hồng cầu bình thường không biến dạng. Giảm canxi rõ rệt 1. Phân loại giai đoạn suy thận mạn Phân loại suy thận mạn của hội thận học Hoa Kỳ [18].1 Các giai đoạn của bệnh thận mạn tính Giai Mô tả Mức lọc cầu Hướng điều trị đoạn thận 4 (ml /phút/1,73m2) Bệnh thận mạn với chức Sàng lọc bệnh thận mạn 1 ≥ 90 năng thận bình thường 2 Suy thận mạn nhẹ 60 – 90 Đánh giá sự tiến triển Đánh giá và điều trị các 3 Suy thận mạn trung bình 30 – 59 biến chứng Điều trị biến chứng, chuẩn 4 Suy thận mạn nặng 15 – 29 bị điều trị thay thế thận Suy thận mạn giai đoạn Điều trị thay thế thận 5 < 15 cuối 1.

CÁC BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ TRONG SUY THẬN MẠN 1. Điều trị bảo tồn [3] -Điều trị nguyên nhân suy thận: Loại bỏ cản trở đường niệu, chống nhiễm khuẩn, điều trị bệnh lupus, điều trị bệnh đái tháo đường, hội chứng thận hư,… -Chế độ ăn: Nguyên tắc là hạn chế protein tùy theo mức độ suy thận, hạn chế nước dựa vào cân bằng vào ra của nước, hạn chế muối( dưới 2g muối/ngày), hạn chế kali, tăng phần kiềm trong thức ăn đồ uống,… -Dùng thuốc: +Khống chế tình trạng tăng huyết áp. +Điều trị rối loạn điện giải. 5 +Điều trị cân bằng toan kiềm.

+Chống thiếu máu: Sắt, erythropoietine. +Điều trị loãng xương: Muối canxi, 1,25 dihydroxycholecalcierol. +Chống nhiễm khuẩn và giải quyết các ổ hoại tử, xuất huyết. +Không dùng các thuốc độc cho thận.2 Điều trị thay thế: Bao gồm lọc máu và ghép thận[5] -Chỉ định: Suy thận mạn giai đoạn V.

-Ghép thận: Là phương pháp điều trị hiệu quả nhất, thay thế đầy đủ chức năng của suy thận, khi thận ghép hoạt động bình thường sẽ làm giảm dần và làm mất hoàn toàn các triệu chứng của ure máu cao -Lọc máu ngoài thận Lọc máu ngoài thận gồm hai phương pháp là: Lọc máu ngoài cơ thể bằng thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc.3 Điều trị suy thận mạn bằng thận nhân tạo -Tháng 10 năm 1924, Greorge Haas (1886-1971) một bác sĩ ngoại khoa đã tiến hành lọc máu lần đầu tiên trên người kéo dài 15 phút. -Năm 1946, Muray đã chế tạo thành công quả lọc cuộn và từ đó đến nay phương pháp lọc máu ngoài thận đã được sử dụng phổ biến trong thực hành lâm sang để điều trị suy thận cấp và mạn tính. -Năm 1960, hai bác sĩ Quinton và Belding Seribmen đã thiết lập được shunt động tĩnh mạch đẻ lọc máu chu kỳ. Ở Việt Nam, kỹ thuật lọc máu bằng thận nhân tạo điều trị cho bệnh nhân suy thận được áp dụng và thực hiện từ thập niên 70 của thế kỷ 20.

Hiện nay trên cả nước có trên 20 trung tâm lọc máu và đơn vị lọc máu, tuy vậy mới chỉ đáp ứng được 10% bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có nhu cầu chạy thận nhân tạo [1].1 Chỉ định, chống chỉ định và nguyên lý cơ bản của kỹ thuật lọc máu chu kỳ -Chỉ định: Suy thận cấp: +Urea máu ≥ 30 mmol/l +Creatinine máu ≥ 600 umol/l +Kali máu ≥ 6,5 mmol/l +Tình trạng lâm sàng nặng ( tiền hôn mê, hôn mê, đe dọa phù phổi cấp…) không đáp ứng với thuốc lợi tiểu. Suy thận mạn tính: +Chỉ định sớm: khi suy thận mạn giai đoạn IIIb, ứng với mức lọc cầu thận từ 10- 5ml/ phút, thường chỉ định khi creatinine máu 500- 900 umol/l +Chỉ định bắt buộc khi: bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn IV tương ứng mức lọc cầu thận <5 ml/phút, creatinine máu >900 umol/l -Chống chỉ định Không có chống chỉ định tuyệt đối Tương đối: +Về tim mạch: trụy tim mạch, rối loạn nhịp nặng, nhồi máu cơ tim và bệnh mạch vành, suy tim toàn bộ. +Rối loạn đông máu chảy máu +Toàn trạng: bệnh nhân đang sốt cao, suy kiệt [1].2 Những nguyên lý chính của thận nhân tạo - Nguyên lý của bộ lọc: Là bộ máy giúp trao đổi chất giữa máu của bn và dịch thẩm phân , được xem như là “ Thận nhân tạo”, gồm một màng bán thấm ngăn một bên là tuần hoàn máu của người bệnh, một bên là lưu thông dịch thẩm 7 phân ngược chiều, sự chênh lệch nồng độ và áp lực giữa 2 khoang quyết định hiệu quả lọc. - Nguyên lý lọc máu: Sự trao đổi giữa dịch và máu bởi cơ chế vật lý, hóa học quamàng bán thẩm gọi là thẩm phân.

- Màng bán thẩm (Cellophane, Cuprophane): Có những lỗ rất nhỏ ( < 6000 dalton ) phân tách 2 môi trường máu và dịch thẩm phân.uric: TLPT nhỏ, có thể qua màng bán thẩm. + Hồng cầu, protid không thể từ máu sang dịch thẩm phân. + Vi khuẩn từ dịch thẩm phân không vào máu được.000 dalton) không qua được màng lọc. - Vận chuyển muối, nước và các chất hòa tan qua màng lọc: qua 2 cơ chế khuyếch tán và siêu lọc.

+ Khuyếch tán: Trong quá trình lọc máu, các chất như ure, creatinin, ion K+ trong huyết thanh được loại bỏ khỏi cơ thể nhờ sự khuyếch tán từ ngăn máu sang ngăn dịch lọc và có sự khuyếch tán ngược của HCO3-, ion Ca++từ ngăn dịch vào ngăn máu. Sự khuyếch tán phụ thuộc 3 yếu tố: (1) độ chênh trung bình nồng độ của dịch lọc và của màng, (2) bề mặt hiệu quả của màng lọc, (3) hệ số tính thấm toàn bộ của bộ lọc + Siêu lọc: Sự vận chuyển chủ động của nước và chất hòa tan do sự chênh lệch áp suất giữa 2 khoang máu và dịch lọc. Trong thực hành, cơ chế khuyếch tán và siêu lọc thường phối hợp với nhau trong suốt quá trình thẩm phân. Ngoài ra còn cơ chế đối lưu và hấp phụ [5].

Bộ lọc (Dialyzer) Là nơi máu bn và dịch lọc tiếp xúc với nhau trong quá trình lọc máu. Bộ lọc bao gồm màng lọc và cấu trúc nâng đở. Hiện nay được sử dụng nhiều nhất trên thếgiới là bộ lọc mao quản ( bao gồm 10000-15000 sợi rổng đường kính 200 micron làm bằng cuprophan hay acetat cellulose) được bao quanh bằng võ 8 polyurethane cứng, có 2 “cổng”nối với ngăn máu và 2 “cổng” nối ngăn dịch lọc. Đặc tính của một màng lọc phụ thuộc: - Chất liệu màng lọc: Cellulose,“Substituted” Cellulose,Cellulosesynthetics và Synthetics.

- KUF( hệ số siêu lọc)(ml/mmHg/giờ): Thể hiện tính thấm của màng đối với nước - Diện tích màng lọc ( từ 0,5 đến 2,5m2) và thể tích mồi ( từ 40 đến 150ml) - Khả năng thanh lọc urê, creatinin, a.uric, phosphate: KoA là chỉ số đo hiệu quả lọc chất hòa tan, chịu ảnh hưởng của độ dầy và kích thước lổ lọc của màng - Phương pháp tiệt khuẩn: Bằng tia gamma hoặc hơi nước, Ethylene oxide rất ít sử dụng vì nguy cơ phản ứng phản vệ và dị ứng [1] [5]. Đường mạch máu để chạy thận nhân tạo Năm 1960, Scribner và cộng sự lần đầu tiên tạo nên đường mạch máu sử dụng thường xuyên để điều trị lọc máu bằng một ống mạch mạch máu Téflon. Năm 1966, Cimino và Brescia tạo ra một đường nối giữa động mạch quay và tĩnh mạch lân cận, nhờ quá trình động mạch hóa tĩnh mạch mà lỗ dò động tĩnh mạch bên trong này có tuổi thọ kéo dài và đây là đường mạch máu được sử dụng nhiều nhất hiện nay. - Đường dò động tĩnh mạch ở cẳng tay: dò giữa động mạch mạch quay và tĩnh mạch đầu ở phần trước trong cẳng tay, thường sử dụng nhất, chiếm 85- 90%.

Sự sẹo hóa chổ nối và động mạch hóa tĩnh mạch cần nhiều tuần đến nhiều tháng. - Catheter tĩnh mạch trung tâm: Được sử dụng trong trường hợp cấp cứu cần có một đường mạch máu tạm thời để lọc máu, thường được sử dụng là tĩnh mạch đùi và tĩnh mạch cảnh trong. Catheter tĩnh mạch dưới đòn hiện nay rất ít 9 được sử dụng do nguy cơ huyết khối và hẹp, catheter tĩnh mạch cảnh trong thường được sử dụng nhất. - Những đường mạch máu ngoại biên khác: Khi dò động tĩnh mạch không thể làm được hoặc dò trước đây đã bị biến chứng.

Trong trường hợp này cần tạo ra cầu nối giữa động mạch quay với tĩnh mạch đầu ở đoạn khuỷu tay hoặc giữa động mạch quay với tĩnh mạch nền.Mãnh ghép có thể là tĩnh mạch hiển của người bệnh hoặc prothèsetổng hợp bằng chất polytétrafluoroéthylene (PTFE) [1] [5]. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả lọc thận chu kỳ + Tiêu chuẩn lâm sàng + Tình trạng toàn thân và dinh dưỡng tốt. + Huyết áp bình thường, không có biểu hiện thiếu máu. + Bilan muối, điện giải, acid bazơ bình thường.

+ Chế ngự tốt canxi máu, phốt pho máu và tăng hoạt cận giáp thứ phát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tóm tắt tài liệu "Đánh Giá Chất Lượng Cuộc Sống Bệnh Nhân Suy Thận Mạn Bằng Thang Điểm SF36" khám phá chất lượng cuộc sống (QoL) của bệnh nhân suy thận mạn tính, một khía cạnh quan trọng trong quản lý bệnh. Nghiên cứu sử dụng thang điểm SF36, một công cụ đánh giá QoL được công nhận rộng rãi, để đo lường các khía cạnh khác nhau như sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và chức năng xã hội của bệnh nhân. Việc hiểu rõ về QoL của bệnh nhân suy thận mạn giúp các chuyên gia y tế thiết kế các can thiệp điều trị phù hợp, cải thiện sự thoải mái và chất lượng sống của bệnh nhân.

Nếu bạn quan tâm đến việc đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trong các bệnh lý khác, bạn có thể tìm hiểu thêm trong tài liệu "Đánh giá chất lượng cuộc sống và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của bệnh nhân nhi mắc thalassemia điều trị tại trung tâm huyết học truyền máu nghệ an", nghiên cứu này tập trung vào chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nhi mắc bệnh Thalassemia. Mặc dù không trực tiếp liên quan đến bệnh thận, việc nghiên cứu nghèo đói cũng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân và có thể bạn sẽ quan tâm đến "Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh saravanh nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào".