Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về cơ hội tiếp cận và rào cản trong tiếp cận an sinh xã hội. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hệ thống an sinh xã hội và rào cản tiếp cận an sinh xã hội. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng về lao động nhập cư và mức độ tiếp cận an sinh xã hội của lao động nhập cư tại Thành phô Hồ Chí Minh.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu về rào cản trong tiếp cận an sinh xã hội của lao động nhập cư tại Thành phó Hồ Chí Minh. Chương 6: Hệ thống giải pháp nhằm giảm rào cản trong tiếp cận an sinh xã hội của lao động nhập cư tại Thành phó Hồ Chí Minh. 7 CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE CƠ HỘI TIẾP CAN VÀ RÀO CAN TRONG TIẾP CAN AN SINH XÃ HOI 1. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE CƠ HỘI TIẾP CAN AN SINH XÃ HỘI Phần tổng quan các nghiên cứu về cơ hội tiếp cận ASXH sẽ được tác giả trình bày theo thứ tự của từng chính sách: BHXH, BHYT, BHTN và cuối cùng là các nghiên cứu về ASXH/bao trợ xã hội.
Các nghiên cứu nước ngoài Guo, E. (2008), đề tài nghiên cứu đến 3 loại BH lớn trong hệ thống ASXH của Trung Quốc: BH hưu trí, BHYT và BH thương tích trong công việc trên mẫu khảo sát gồm 2.531 người dân ở 5 thành phố lớn của Trung Quốc, trong đó có 1.972 người di cư và 559 người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 70% số người được khảo sát trả lời không tham gia bat kỳ chương trình BH nào. Những người có trình độ giáo dục từ cấp 3 trở lên có ty lệ tham gia 3 chương trình BH cao hơn; những người làm việc trong nhà nước và DN thuộc sở hữu tập thé, cô phần và liên doanh có tỷ lệ tham gia 3 chương trình BH cao hơn; người làm công việc bàn giấy được tiếp cận 3 chương trình BH nhiều nhất.
Kết quả cũng cho thấy, nữ giới được tham gia ít hơn nam giới; LD lớn tuổi chủ yêu được tham gia BH hưu trí, BHYT và trợ cấp CSSK tuổi già và it được tham gia BH chan thương trong công việc. Các kết quả này được chứng minh cụ thể qua kết quả hồi quy 3 mô hình Logit cho 3 loại BH trên, với biến phụ thuộc Y là tham gia hay không tham gia, các biến độc lập bao gồm: tình trạng cư trú; số năm đi học; tình trạng hộ khẩu; việc làm; loại hình việc làm và loại hình nghề nghiệp; các biến liên quan đến kinh nghiệm ở thành phó; thời gian cư trú; khu vực cư trú đô thị. Và thực sự có sự phân biệt rất lớn về cơ hội tiếp cận ASXH của người địa phương và người di cư, sự chênh lệch này thậm chí lên tới 33 lần. Đây thực sự là trở ngại rất lớn cho Trung Quốc trong tiến trình cải cách ASXH nhằm đảm bảo công băng.
(2019), nhóm tác gia đã chỉ ra 3 nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến quyết định mua là: (i) Khác biệt cá nhân là nhân tố mô tả đặc điểm phát sinh từ bên trong người tiêu dùng và quá trình tâm lý xảy ra ảnh hưởng đến người tiêu ding; (ii) Môi trường là điều kiện của xã hội ảnh hưởng đến quyết định người tiêu dùng; (iii) Các yếu tô tiếp thị hỗn hợp là công cụ marketing mix được các công ty sử dụng đề thuyết phục người mua. Kết quả cho thấy, các yếu tố trong nhóm biến môi trường như gia đình, điều kiện kinh tế, công nghệ có tác động tích cực đến quyết định của người tham gia chon Prudential Syariah với giá tri A = 0,89. Biến các yếu tố tiếp thị hỗn hợp có A = 0,941 với độ tin cậy đứng thứ hai ảnh hưởng đến quyết định của người tham gia, các yếu tô phụ thuộc trong biến yếu tố tiếp thị hỗn hợp gồm: dịch vụ, thương hiệu, chất lượng sản phẩm, vị trí, quảng cáo, chính sách và các chương trình khuyên mãi sản phâm. § Kiil (2012), trong nghiên cứu này, tác giả ước tính các yếu tố quyết định đến việc làm dựa trên BHYT tư nhân, trên dữ liệu từ một cuộc khảo sát của LLLĐ Dan Mạch tiễn hành năm 2009.
Kết quả chỉ ra rằng xác suất có BHYT tư nhân bị ảnh hưởng tích cực bởi việc làm của khu vực tư nhân, quy mô của nơi làm việc, thu nhập và độ tuổi. Trong khi sự hiện diện của các yếu tô như: cấp dưới, giới tính, trình độ học vấn, công dân của Đan Mạch và sống trong khu vực thủ đô không liên quan đáng kể đến BHYT tư nhân. Trong đó, các đặc điểm liên quan đến nơi làm việc là yếu tố quyết định quan trọng đến việc tiếp cận BHYT tư nhân, sau đó là yếu tố sức khỏe tự đánh giá. Cuối cùng là nêu người dân có mức độ hài lòng với hệ thống CSSK của nhà nước thì xác suất mua BHYT tư nhân sẽ thấp và ngược lại.
Giesbert (2012), nghiên cứu sử dung dir liệu được khảo sát ở miền nam Ghana trên 1. Tác giả sử dụng mô hình ước lượng probit và tobit về quyết định mua bảo hiểm nhân thọ của các HGD. Trong đó biến phụ thuộc là Y; lay giá trị = 1 nếu HGD đã mua bảo hiểm nhân tho và = 0 nếu chưa mua bảo hiểm nhân tho. X: là biến phụ thuộc bao gồm 5 nhóm biến: (i) Mức độ giàu của gia đình được đo bằng chi số tài sản, số lượng đất sở hữu, lượng kiều hối nhận được mỗi tháng: (1) Rui ro khách quan phân tích bao gồm tuổi, tình trạng sức khỏe do lường băng ty lệ bệnh nặng của các thành viên trong gia; (iii) Chủ hộ có ưa thích rủi ro hay không rủi ro; (iv) Sự quen thuộc, mạng lưới thông tin về sé lượng tham gia, sự nhận biết thông tin thông qua báo, đài; (v) Và một số điều kiện khác liên quan đến trình độ học van, giới tinh và khu vực sinh sống.
Không giống như trường hợp với các loại bảo hiểm có sẵn khác, có một mối quan hệ tiêu cực đáng kế giữa nhận thức rủi ro chủ quan của các HGD và sự gia tăng của bảo hiểm nhân thọ. Kết quả cũng chỉ ra rằng các hộ nghèo xem bảo hiểm nhân thọ như một sự lựa chọn rủi ro. (2014), nghiên cứu dé cap tiép can cua người nhập cư đến ASXH va CSSK ở AiLen. Hệ thống ASXH của Ailen, bao gồm CSSK đối với người LĐNC và gia đình họ.
Nghiên cứu chi ra rằng có sự khác biệt đáng ké về mức độ tiếp cận ASXH giữa LD di cư và không di cư, đặc biệt là các chính sách hành chính, một SỐ chính sách dé được thụ hưởng yêu cầu người nộp đơn phải có quyền cư trú tại quốc gia đó, điều này thực sự là trở ngại lớn cho LD di cư. (2019), nghiên cứu tập trung vào việc xem xét liệu trải nghiệm sức khỏe tiêu cực trong quá khứ có liên quan tích cực với ý định mua bảo hiém dé giảm thiêu rủi ro mat thu nhập do bệnh tật hay không. Nhóm tác giả sử dụng số liệu khảo sát dựa trên các mẫu đại diện của các cá nhân tại 11 quốc gia. Kết quả cho thấy, những người đã từng trải qua sự kiện tiêu cực về sức khỏe có nhiều khả năng mua bảo hiểm bảo vệ thu nhập hơn những người không có tiền sử như vậy.
Các yếu tố có ý nghĩa thống kê tác động đến ý định mua BH còn có: kinh nghiệm cá nhân, trải nghiệm sức khỏe tiêu cực, rủi ro cá nhân, tuôi, trẻ em dưới 18 tuổi, người phụ thuộc, thu nhập, lo ngại rủi ro. 9 Leslie Hodges (2018), tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với hàm hồi quy Probit dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc có mua BHTN nhằm xác định diện bao phủ của chính sách BHTN. Các yếu tố có ý nghĩa thống kê bao gồm: giới tính, dân tộc, tuổi, trình độ học van, tinh trạng hôn nhân, trẻ em, việc làm bán thời gian, nganh nghề, nghề nghiệp. (2011), nhóm tac gia dé cap, di chuyén LD quốc tế ngày càng diễn ra mạnh mẽ và đóng góp của LĐNC cho các nước sở tại là không thê phủ nhận.
Tuy nhiên, đối tượng này đang gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận ASXH ở nước sở tại, chỉ có một phần nhỏ họ có thê được hưởng các khoản trợ cấp ASXH. Nghiên cứu đề cập đến cách thức dé các nước có thé xây dựng hệ thống ASXH đúng chuẩn mực va tăng cường việc phối hợp ASXH giữa các nước thông qua các hiệp định song phương và đa phương nhằm bảo vệ quyền lợi cho LD di cư trong việc tiếp cận các chính sách ASXH. (2002), nghiên cứu dé cập đến ASXH của nhóm LD di cư và chỉ ra rằng, LD di cư đang phải đối mặt với những khó khăn, đặc biệt là trong lĩnh vực ASXH. Nếu không có sự bảo vệ quốc tế, họ có nguy cơ mat quyền lợi BHXH mà họ được hưởng ở nước mình, đồng thời có thể gặp phải các điều kiện hạn chế ở nước sở tại về mức độ bao phủ của hệ thông ASXH.
Thông qua đó, ILO đã nỗ lực dé cung cấp cho họ sự bảo vệ thông qua các tiêu chuẩn trong các công ước nhăm đặt ra nguyên tắc rõ ràng, bình đăng cho LĐNC trong VIỆC tiếp cận ASXH ở nước sở tại. Bên cạnh đó, ILO cũng quan tâm đến các tiêu chuẩn nhằm hỗ trợ LĐNC trong việc giải quyết các vấn đề xã hội trên phạm vi toàn cầu. (2005), nghiên cứu đã chi ra rang, mặc dù tiếp cận ASXH được thừa nhận quốc tế như một quyền con người, nhưng thực tế một số nhóm đối tượng dé dàng được thực thi, trong khi nhóm khác thường xuyên không dé dàng tiếp cận được đến chính sách. Sự phát triển của nền kinh tế phi chính thức ở các nước phát triển và các nước đang phát triển đã thể hiện những điểm hạn chế trong việc cung cấp ASXH cho những người thuộc nền kinh tế nay, NLD trong khu vực không chính thức bị thiệt thi, họ bị loại ra khỏi cộng đồng.
Bài viết tập trung phân tích một số lý do dẫn đến những thiếu sót trong BHXH hiện tại đối với nhóm LD phi chính thức, dé xem xét các giải pháp nham mở rộng việc cung cấp dịch vụ CSSK, ASXH cho nhóm LD khu vực phi chính thức.