Chương 1. NHỮNG VAN DE CHUNG VE LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA DINH 1. Một số van dé lý luận về LDGVGD và pháp luật LDGVGD 1. Lao động giúp việc gia đình 1.
Khai nệm LDGVGD Từ việc công nhận giúp việc gia đình là một nghề, ILO cũng như pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ. Định nghĩa đầu tiên về LĐGVGĐ được ILO đưa ra tại cuộc họp các chuyên gia năm 1951. Theo đó, LDGVGD được định nghĩa: “Là người làm công, làm việc tại nhà riêng, theo các hình thức và thời gian thanh toán tiền công khác nhau. Người này có thể do một hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công việc này”.
Từ quy định có tính chất nền móng và định hướng của ILO, nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ.” Theo đó các định nghĩa được pháp luật các quốc gia đưa ra rất phong phú, nhắn mạnh các tiêu chí khác nhau để xác định công việc trong gia đình và LĐGVGĐ. Điểm chung trong các định nghĩa này là đều xác định công việc giúp việc gia đình phải là công việc trong gia đình, được thực hiện thường xuyên, mang tính liên tục và trên cơ sở nghề nghiệp. LDGVGD là NLD thực hiện các công việc trong gia đình. Bên cạnh đó, có nhiều quốc gia, mặc dù pháp luật đã điều chỉnh đối với LDGVGD nhưng lại không có định nghĩa LĐGVGĐ, như Trung quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Srilanka’.
Để thống nhất cách hiểu chung về “công việc trong gia đình” và “NLĐ giúp việc gia đình", đồng thời ghi nhận những đóng góp quan trọng của LDGVGD đối với nền kinh tế toàn cầu, cũng như nhằm nâng cao vị thé của LĐGVGĐ ở các quốc gia, ngày 16/6/2011, ILO đã thông qua Công ước số 189 * Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Tài liệu tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb Lao động-xã hội, 2010, tr. *Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, Báo cáo rà soát pháp luật, chính sách, nghiên cứu quốc tế và Việt Nam liên quan đến LDGVGD, Hà Nội, 2013, tr. 11 về việc làm bền vững cho LDGVGD. Theo Điều 1 Công ước số 189, “Thudt ngữ “công việc trong gia đình ` có nghĩa là công việc được thực hiện trong hoặc cho một hộ gia đình hay nhiều hộ gia đình; thuật ngữ “NLĐ giúp việc gia đình” (domestic worker) là bắt kỳ người nào thực hiện công việc trong gia đình có quan hệ việc làm; một người chỉ thực hiện công việc trong gia đình theo địp hoặc không thường xuyên và không có tính chất nghề nghiệp thì không phải là NLD giúp việc gia đình".
Ở Việt Nam, BLLĐ ra đời năm 1994, tuy thừa nhận LDGVGD, nhưng chưa có quy định riêng cụ thé về quyên và nghĩa vụ của loại lao động này, đồng thời cũng chưa đưa ra định nghĩa về LĐGVGĐ. Đến năm 1998, trong Quyết định số 114/1998/QĐ-TCTK của Tổng cục thống kê ngày 29/3/1998, giúp việc gia đình chính thức được công nhận là một nghề. Đến năm 2007, giúp việc gia đình được công nhận trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 23/01/2007. Việc thừa nhận LĐGVGĐ là một nghề trong các văn bản này, đã tạo nên tảng quan trọng dé BLLD năm 2012 quy định cụ thé về LDGVGD.
Theo đó, khái niệm LĐGVGĐ đã được cụ thê tại Điều 179 như sau: “Lao động là người giúp việc gia đình là NLĐ làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiễu hộ gia đình. Các công việc trong hộ gia đình bao gom công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mai”. Để thống nhất với tên gọi các loại lao động khác trong Chương XI của BLLĐ như lao động là người khuyết tat,. nên Bộ luật sử dụng thuật ngữ “/ao động là người giúp việc gia đình”.
Việc sử dụng thuật ngữ này không mang tinh khái quát, lặp từ. Vì thế, trên cơ sở thuật ngữ tiếng Anh mà ILO sử dụng trong Công ước số 189 là “domestic worker” (LĐGVGĐ), cũng như những ưu điểm trong các định nghĩa LĐGVGĐ của ILO và nhiều quốc gia, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “LDGVGD” (thay vì sử dụng thuật ngữ “lao động là người giúp việc 12 gia đình”) và đưa ra định nghĩa về LDGVGD như sau: LDGVGD là NLD lam thường xuyên các công việc trong hoặc cho gia đình của một hoặc nhiễu hộ gia đình. LDGVGD có một số đặc điểm riêng sau đây. Thứ nhất, LDGVGD thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đình.
Đây được coi là đặc điểm quan trọng nhất dé nhận diện LDGVGD. Bởi công việc của lao động giúp việc có nét đặc trưng khác với công việc của NLD khác. Đó không phải là một công việc được xác định cụ thể mà là một chuỗi các công viéc/nghé khác nhau, được lặp đi lặp lại mỗi ngày (nấu ăn, trông trẻ, lau don nhà cửa, giặt giũ quần áo. Do công việc da dạng, nên LDGVGD thường không có lịch làm việc cô định, đặc biệt là công việc không thé mô tả một cách rõ ràng.
Ví dụ, khi trông trẻ phải cho trẻ ăn, vệ sinh, tắm gội, chơi với trẻ, đến giờ thì nau ăn, don đẹp.Trong khi đó, LDGVGD luôn phải sẵn sàng làm việc bat cứ việc gi, bất kế vào lúc nào khi có yêu cầu của NSDLĐ. Thứ hai, LDGVGD làm việc trong môi trường khép kin, don lẻ. Với những đặc thù của công việc giúp việc gia đình, nên số lượng LĐGVGĐ thường it, mang tính đơn lẻ và làm việc trong phạm vi một gia đình hoặc một số hộ gia đình. Hau như LĐGVGĐ ít có sự giao lưu với bên ngoài và không được tham gia các tổ chức, đoàn thé.
Vì thế, ban thân LDGVGD dễ phải đối mặt với các nguy cơ như bị mắng chửi, đánh đập, đe dọa, bị lạm dụng sức lao động, lạm dụng tình dục. từ chính các thành viên trong hộ gia đình. Ngoài ra, đối với những NLD giúp việc sống chung với gia đình NSDLĐ còn bị kiểm soát về sự tự do, đi lại và giao tiếp, nên đời sống tinh thần của họ ít nhiều bị ảnh hưởng. Thứ ba, LĐGVGĐ chủ yếu là lao động nữ và có trình độ học van thấp.
Đặc điểm này xuất phát từ tính chất công việc giúp việc gia đình. Bởi hầu hết các công việc như nội trợ, trông trẻ, chăm sóc người gia,. đều là các công việc có tính giản đơn, không cần qua dao tao vẫn có thé làm được. Trong đó, chủ yêu là trẻ em gái và phụ nữ ở các vùng nông thôn có hoàn cảnh gia đình khó 13 khăn, nghèo, đông con, công việc không ôn định.
Họ chọn công việc giup việc gia đình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống gia đình. Do làm việc trong môi trường hẹp/khép kín nên họ dễ bị lạm dụng sức lao động, quấy rối tình dục và phải đối mặt với nhiều nguy cơ khác. Vai tro cua LDGVGD Thứ nhất, vai trò đối với chính LDGVGD. Do LDGVGD hau hết là nữ, trong đó chủ yếu là trẻ em gái hoặc nữ giới ở độ tuôi trung niên, trình độ học vấn thấp.
nên cơ hội tìm kiếm việc làm 6n định, lâu dài là khá khó khăn. Bởi vậy, tham gia LDGVGD, NLD tăng cơ hội có việc làm hợp pháp, ôn định. Khi đã có việc lam, NLD tăng cơ hội có nguồn thu nhập 6n định, lâu dài. Hơn nữa, khi sống cùng gia đình NSDLĐ, NLD còn tiết kiệm được các khoản chi phí thuê nhà, điện, nước, sinh hoạt cá nhân, ăn uống hăng ngày.
Từ việc 6n định thu nhập, LDGVGD sẽ có điều kiện dé chăm lo kinh tế cho gia đình minh, bảo đảm chi tiêu và góp phan cải thiện đời sống vật chất và tỉnh thần cho các thành viên của gia đình cũng như đóng góp cho các hoạt động xã hội ở địa phương. Ngoài ra, thu nhập từ giúp việc gia đình còn góp phan tạo dựng lợi ich lâu dai cho NLD, là nguồn tiết kiệm, tích lũy phòng khi có rủi ro xảy ra hoặc bảo đảm đời sống khi họ hết khả năng lao động. Thứ hai, vai trò đối với NSDLĐ sử dung LDGVGP. Hộ gia đình thuê mướn lao động giúp việc thông thường là hộ gia đình có điều kiện về kinh tế, song do công việc mà các thành viên không có thời gian làm việc nhà, nhất là khi gia đình có người cần chăm sóc như trẻ em dưới 3 tuôi, nguoi gia, người ốm.
Vi vậy, khi sử dung LDGVGBD), các thành viên trong hộ gia đình được hỗ trợ đáng ké nhu cau san sẻ áp lực đối với công việc gia đình, từ đó tạo điều kiện để họ chuyên tâm với công việc chuyên môn, làm ra thu nhập cao hơn. Mặt khác, do công việc bận rộn, các thành viên trong hộ gia đình không có điêu kiện đê chăm sóc tôt cho nhau, trong khi đó các dịch vụ xã hội (nhà trẻ, 14 trường mam non, dịch vụ chăm sóc người bệnh, người già, dịch vụ lau dọn nhà cửa.) chưa bảo đảm và còn nhiều bất cập, thì sử dung LDGVGD được coi là giải pháp hữu hiệu tạo cơ hội được chăm sóc, quan tâm cho các thành viên trong gia đình, nhất là trẻ em, người già, người bệnh. Thứ ba, vai trò đối với sự phat triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc thừa nhận LDGVGD đã tạo cơ hội cho NLD, chủ yếu là nữ giới ở khu vực nông thôn có cơ hội tìm việc làm phù hợp, giúp họ thoát khỏi tình trạng đói nghèo.
Với mức thu nhập 6n định từ mức lương tối thiểu trở lên, LDGVGD mang lại giá trị kinh tế nhất định cho bản thân họ và gia đình. Cùng với đó, NSDLD có trình độ cao sẽ có thời gian, sức khỏe dé tăng thu nhập cao hon, từ đó tạo điều kiện bao đảm ổn định, lâu dai cho thu nhập cua LDGVGD. Khi thu nhập của LDGVGD và thu nhập của NSDLD ôn định và tăng cao, sẽ góp phần quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, nói rộng ra là cho các thành viên trong xã hội. Đây cũng chính là các điều kiện dé bảo đảm và thúc đây kinh tế phát triển, bảo đảm an sinh xã hội của đất nước theo hướng 6n định, công bang và văn minh.
Các loại LDGVGD LĐGVGĐ có nhiều loại dựa vào các căn cứ phân loại khác nhau.