Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tống Thị Thúy thuộc chuyên ngành Quản lý đất đai (Khoa Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên), thực hiện năm 2015 dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Đình Thi. Đề tài tập trung đánh giá việc thực hiện công tác tái định cư của dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trong giai đoạn 2012 – 2014.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn, không thể tái tạo và giữ vai trò nền tảng trong mọi hoạt động kinh tế – xã hội. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải chuyển dịch một phần diện tích đất nông nghiệp sang mục đích phi nông nghiệp để xây dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và các công trình năng lượng trọng điểm quốc gia. Các công trình thủy điện thường được xây dựng tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa – nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống gắn liền với đất đai, rừng và các tập quán canh tác truyền thống. Việc thu hồi đất quy mô lớn phục vụ lòng hồ và mặt bằng thi công tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế – xã hội và văn hóa của cư dân bản địa.
Dự án thủy điện Lai Châu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư tại Quyết định số 819/QĐ-TTg ngày 07/06/2010 và chính thức khởi công xây dựng cuối năm 2010 (ngày 05/01/2011) trên sông Đà thuộc địa bàn huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Công trình có công suất thiết kế 1.200 MW, dự kiến hoàn thành vào năm 2017 nhằm cung cấp điện năng cho hệ thống điện quốc gia, phòng chống lũ và cấp nước cho hạ du. Để bàn giao mặt bằng lòng hồ, công tác di dân tái định cư được triển khai theo Quy hoạch tổng thể di dân tái định cư dự án thủy điện Lai Châu phê duyệt tại Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 30/01/2011. Tại xã Mường Tè (huyện Mường Tè), mặc dù người dân đã bước đầu chuyển đến nơi ở mới, song cuộc sống thực tế gặp nhiều vướng mắc: thiếu đất sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi tập quán canh tác khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Xuất phát từ bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khách quan kết quả đạt được, chỉ ra tồn tại và đề xuất giải pháp ổn định đời sống nhân dân.
Mục tiêu nghiên cứu
Văn bản xác định 2 mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá việc thực hiện công tác tái định cư của dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mường Tè (huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu) và kết quả đạt được trong giai đoạn 2012 – 2014; đồng thời đánh giá thực trạng đời sống, thu nhập, việc làm của người dân xã Mường Tè sau khi chuyển lên khu tái định cư.
- Đề xuất một số giải pháp khoa học, phù hợp với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng khu tái định cư tại xã Mường Tè.
Yêu cầu nghiên cứu
Nghiên cứu đặt ra 5 yêu cầu thực hiện:
- Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Nắm vững các chính sách pháp luật về đất đai, môi trường và các chính sách liên quan khác.
- Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải khách quan, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng.
- Xác định đúng đối tượng, đúng mục đích, phạm vi nghiên cứu; từ đó xác định những khó khăn tồn tại và đề xuất giải pháp tháo gỡ.
- Đưa ra đề xuất có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kết quả xây dựng khu tái định cư; diện tích đất đai và kết quả đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng tại cụm tái định cư dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mường Tè; thực trạng cuộc sống, việc làm và thu nhập của các hộ tái định cư.
- Phạm vi nghiên cứu: Kết quả thực hiện quy hoạch khu tái định cư của cụm tái định cư xã Mường Tè (gồm 2 cụm điểm Nậm Củm và Đon Lạt).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2012 – 2014.
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Mường Tè và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung pháp lý và cơ sở lý luận
Nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm chuẩn hóa về quản lý đất đai và tái định cư:
- Thu hồi đất: Nhà nước ra quyết định hành chính thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
- Bồi thường: Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
- Hỗ trợ: Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm, cấp kinh phí di chuyển, hỗ trợ sản xuất và ổn định đời sống.
- Tái định cư: Quá trình di chuyển đến nơi ở mới để sinh sống và làm ăn, bao gồm bồi thường thiệt hại về đất, tài sản, di chuyển và hỗ trợ phục hồi cuộc sống, thu nhập, vật chất, tinh thần. Các hình thức tái định cư gồm bồi thường bằng nhà ở, giao đất ở mới, hoặc chi trả bằng tiền để người dân tự lo nơi ở.
Tác giả tổng quan kinh nghiệm quốc tế về tái định cư bắt buộc từ các tổ chức như Ngân hàng Thế giới (chính sách chung năm 1980, hướng dẫn hoạt động năm 2004 theo nguyên tắc giảm thiểu tái định cư, có sự tham gia của bên bị thiệt hại), UNCHR (hướng dẫn năm 1997 về chia sẻ lợi ích), FAO; cùng kinh nghiệm chính sách đất đai và bồi thường tại Trung Quốc (phân chia đất đô thị nhà nước và đất nông thôn tập thể, bảo vệ nghiêm ngặt đất ruộng cơ bản trên 80%), Hàn Quốc (chính sách nhà ở giải quyết di dân tại Seoul thập niên 70), và Pháp (thể chế trưng thu tài sản minh bạch, trả trước).
Tại Việt Nam, nghiên cứu hệ thống hóa các mốc chính sách pháp luật:
- Giai đoạn trước năm 1993: Nghị định số 151/NĐ-TTg ngày 14/04/1959 về trưng dụng ruộng đất; Thông tư số 1792/TT-TTg ngày 11/01/1970; Quyết định số 186/QĐ-HĐBT ngày 31/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
- Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2014: Luật Đất đai năm 1993, 2003 và 2013; Nghị định số 64/NĐ-CP (1993), Nghị định số 87/NĐ-CP (1993), Nghị định số 90/NĐ-CP (1994), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP; Quyết định số 34/2010/QĐ-TTg về bồi thường, hỗ trợ tái định cư dự án thủy lợi, thủy điện; Quyết định số 193/QĐ-TTg (2011) về quy hoạch tổng thể di dân tái định cư thủy điện Lai Châu.
- Văn bản quy định của địa phương: Quyết định số 16/2010/QĐ-UBND, Quyết định số 44/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 09/2013/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lai Châu; Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 18/01/2012 của Chủ tịch UBND huyện Mường Tè.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực tiễn kết hợp phân tích số liệu:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo phát triển kinh tế – xã hội của xã Mường Tè; hồ sơ, báo cáo lưu trữ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mường Tè, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Ban Quản lý dự án huyện Mường Tè về công tác bồi thường, giao đất, giải ngân kinh phí đầu tư và hiện trạng hạ tầng.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành điều tra thực địa, khảo sát trực tiếp tại các bản tái định cư để kiểm tra, đối chiếu số liệu thứ cấp với hiện trạng mặt bằng, hạ tầng và đời sống người dân.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu điều tra: Thống kê các chỉ tiêu về dân số, lao động, diện tích đất ở, tiến độ giải phóng mặt bằng, khối lượng hạ tầng kỹ thuật; phân loại theo năm và theo cụm điểm tái định cư.
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: So sánh hiện trạng sản xuất, thu nhập của người dân trước và sau khi tái định cư; đánh giá tỷ lệ hoàn thành đối chiếu với quy hoạch và tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày cơ sở lý luận về vai trò của đất đai đối với sự phát triển kinh tế – xã hội; khẳng định tính tất yếu của việc thu hồi đất phục vụ các dự án thủy điện lớn. Tác giả giới thiệu khái quát dự án thủy điện Lai Châu và sự cần thiết phải nghiên cứu công tác di dân tái định cư tại xã Mường Tè nhằm nhận diện những hạn chế, bất cập nảy sinh tại nơi ở mới. Đưa ra 2 mục tiêu nghiên cứu, 5 yêu cầu cụ thể và ý nghĩa kép của đề tài (nâng cao năng lực học thuật và cung cấp tài liệu thực tiễn cho địa phương).
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Khái quát kinh nghiệm quốc tế về chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư từ các định chế đa phương (WB, UNCHR, FAO) và pháp luật của Trung Quốc, Hàn Quốc, Pháp. Phân tích quá trình phát triển của chính sách bồi thường, tái định cư ở Việt Nam qua hai giai đoạn lớn (trước 1993 và từ 1993 đến khi ban hành Luật Đất đai 2013). Giới thiệu quy mô công trình thủy điện Lai Châu (vốn đầu tư 35.000 tỷ đồng, 1.200 MW, dung tích hồ 1,2 tỷ m³, lưu vực 26.000 km², sản lượng 4.704 triệu kWh/năm do EVN làm chủ đầu tư và Tổng công ty Sông Đà thi công). Nêu rõ quy mô di dân toàn dự án dự kiến là 1.760 hộ với 7.805 khẩu (307 hộ tự di chuyển), lập 8 khu và 35 điểm tái định cư tập trung chủ yếu trên địa bàn huyện Mường Tè.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là kết quả tái định cư, quỹ đất, hạ tầng kỹ thuật và thực trạng đời sống của người dân tại xã Mường Tè; phạm vi không gian là cụm điểm Nậm Củm và Đon Lạt; phạm vi thời gian từ năm 2012 đến 2014. Xác lập khung phương pháp luận gồm 4 bước: thu thập số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý, khảo sát sơ cấp thực địa, thống kê tổng hợp và phân tích định tính kết hợp định lượng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các mặt nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Mường Tè: Xã có tổng diện tích tự nhiên 18.404,78 ha (đất lâm nghiệp chiếm 11.088,60 ha; đất sản xuất nông nghiệp 1.180,43 ha; đất phi nông nghiệp 339,85 ha; mặt nước thủy sản 3,20 ha; còn lại là đất chưa sử dụng). Địa hình chia cắt hiểm trở, độ dốc lớn, độ cao trung bình 900 – 1.500 m. Lượng mưa trung bình năm 2.531 mm, tập trung 87,5% vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) gây xói lở và lũ quét. Năm 2014, toàn xã có 915 hộ với 4.061 khẩu thuộc 6 dân tộc (Thái 578 hộ/2.468 khẩu; Giáy 186 hộ/847 khẩu; La Hủ 36 hộ/307 khẩu; Hà Nhì 31 hộ/181 khẩu; Kinh 48 hộ/213 khẩu; dân tộc khác 7 hộ/45 khẩu).
- Thực trạng đời sống người dân vùng lòng hồ trước khi thu hồi đất (năm 2009): Mỗi hộ sở hữu bình quân 7.800 – 8.600 m² đất nông nghiệp (gồm đất 1 vụ lúa 1.200 – 1.300 m², đất 2 vụ lúa 2.500 – 3.200 m², đất màu 3.100 – 3.200 m², đất vườn 800 m², đất cây lâu năm 200 m²). Thu nhập bình quân đạt khoảng 8 triệu đồng/hộ/năm, trong đó 90% thu nhập đến từ nông nghiệp (trồng trọt 70%, chăn nuôi 30%). Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại 3 bản lòng hồ (Nậm Củm, Mường Tè, Đon Lạt) lần lượt là 5,74% và 2,61%; hộ trung bình chiếm 81,2%; hộ khá 9,14%; hộ giàu 1,31%.
- Kết quả thực hiện di chuyển dân: Kế hoạch theo Quyết định số 84/QĐ-UBND huyện Mường Tè là 445 hộ (1.856 khẩu), nhưng thực tế đến tháng 04/2014 đã tăng lên 492 hộ (1.957 khẩu) do phát sinh việc tách hộ. Tính đến hết năm 2014, cụm Nậm Củm tiếp nhận 1.218 khẩu, cụm Đon Lạt tiếp nhận 679 khẩu; còn tồn đọng 13 hộ chưa di chuyển do mâu thuẫn chính sách bồi thường.
- Kết quả giao đất và hỗ trợ sản xuất: Quy hoạch tổng diện tích mặt bằng 2 cụm là 44,5 ha (Nậm Củm 28,4 ha; Đon Lạt 16,1 ha). Tính đến tháng 6/2014, đã giao đất ở cho 316 hộ tại Nậm Củm (117.760 m²) và 163 hộ tại Đon Lạt (64.220 m²), bình quân đạt 379,92 m²/hộ. Tuy nhiên, toàn bộ các hộ dân chưa được giao đất sản xuất nông nghiệp theo hạn mức quy định (0,27 ha lúa nước, 0,37 ha cây hàng năm, 0,32 ha cây lâu năm, 1 – 2 ha cao su, 12,2 ha lâm nghiệp) và không có đất vườn; người dân phải tự ý đi khai phá đất nương để canh tác.
- Kết quả đầu tư kết cấu hạ tầng: Đang thi công đường vào khu trung tâm (2,2 km cấp VI miền núi), đường nối điểm Nậm Củm (1 km loại A), Đon Lạt (1,2 km loại A), đường nội đồng (50 km loại C, đã bê tông hóa được 3 km), đường nội bộ khu dân cư phần lớn vẫn là đường đất. Hệ thống thủy lợi Nà Cấu (tưới 100 ha, kênh dẫn 5,2 km) chưa kiên cố hóa. Hệ thống nước sinh hoạt thiết kế 60 lít/người/ngày đêm thường xuyên vỡ ống dẫn, thiếu nước. Hệ thống điện hoàn thành 2 trạm biến áp, 4,2 km đường 35 kV, 1,8 km đường 0,4 kV và 230 km hạ thế. Công trình công cộng đã xây dựng 1 trường tiểu học, trường mầm non, 4 nhà văn hóa, 1 nghĩa trang, 1 trụ sở xã; rãnh thoát nước hở, không có nắp đậy kín và thiếu hố gom xử lý nước thải.
- Kinh phí đầu tư và thực trạng lao động: Tổng kinh phí đầu tư được giao là 415,380 tỷ đồng. Cơ cấu lao động tại 2 điểm tái định cư gồm 1.294 người trong độ tuổi lao động (chiếm 66,12% dân số tái định cư); trong đó lao động nông nghiệp chiếm 78,67% (1.018 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 21,33% (276 người); có 151 học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết toàn bộ các kết quả đạt được về mặt di dân và giao đất ở; nhấn mạnh các nút thắt lớn nhất về giao đất sản xuất, nguy cơ cô lập giao thông trong mùa mưa và bất cập hạ tầng môi trường. Tác giả kiến nghị các giải pháp cụ thể: tiếp tục giải quyết đất sản xuất, đất vườn, bố trí vốn hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và triển khai chương trình chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực hiện công tác tái định cư
Nghiên cứu tổng hợp các số liệu phản ánh trung thực kết quả thực hiện di chuyển dân và giao đất tại địa bàn xã Mường Tè trong giai đoạn 2012 – 2014:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Cụm điểm TĐC Nậm Củm |
Cụm điểm TĐC Đon Lạt |
Tổng cộng 2 cụm điểm |
| Diện tích mặt bằng quy hoạch (ha) |
28,4 |
16,1 |
44,5 |
| Số hộ di dân tiếp nhận năm 2012 (hộ/khẩu) |
100 / 427 |
0 / 0 |
100 / 427 |
| Số hộ di dân tiếp nhận năm 2013 (hộ/khẩu) |
173 / 663 |
24 / 94 |
197 / 757 |
| Số hộ di dân tiếp nhận năm 2014 (hộ/khẩu) |
43 / 128 |
139 / 585 |
182 / 713 |
| Tổng số nhân khẩu đã tiếp nhận (khẩu) |
1.218 |
679 |
1.897 |
| Số hộ đã được giao đất ở (hộ) |
316 |
163 |
479 |
| Diện tích đất ở đã bàn giao (m²) |
117.760 |
64.220 |
181.980 |
| Mức đất ở bình quân thực tế (m²/hộ) |
372,66 |
393,99 |
379,92 |
| Tỷ lệ giao đất sản xuất nông nghiệp (%) |
0% |
0% |
0% |
| Tỷ lệ giao đất vườn cho các hộ (%) |
0% |
0% |
0% |
| Số hộ còn tồn đọng chưa di dời (hộ) |
- |
- |
13 |
Dân số tại 2 điểm tái định cư tăng từ 445 hộ (1.856 khẩu) năm 2012 lên 492 hộ (1.957 khẩu) vào tháng 04/2014, tỷ lệ tăng số hộ là 10,56% và tăng khẩu là 5,44% do phân chia gia đình nhiều thế hệ. Về nguồn nhân lực, trong 1.294 lao động hiện có, nông nghiệp chiếm 78,67% và phi nông nghiệp chiếm 21,33%.
Tình hình giải ngân kinh phí đầu tư
Tổng dự toán vốn đầu tư xây dựng khu tái định cư tại xã Mường Tè giai đoạn 2012 – 2015 là 415,380 tỷ đồng (415.380 triệu đồng), phân bổ cho các hạng mục:
| STT |
Hạng mục đầu tư |
Dự toán vốn (Triệu đồng) |
| 1 |
Bồi thường giải phóng mặt bằng |
86.400 |
| 2 |
Đầu tư tạo quỹ đất cho hộ tái định cư |
66.200 |
| 3 |
Công trình giao thông |
44.500 |
| 4 |
Đầu tư hệ thống cấp, thoát nước sinh hoạt |
12.420 |
| 5 |
Công trình công cộng |
55.600 |
| 6 |
Hệ thống thủy lợi |
50.000 |
Giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất
- Bổ sung quỹ đất ở và đất sản xuất: Hoàn thiện công tác san lấp mặt bằng, khắc phục nền đất yếu để bàn giao dứt điểm đất ở cho các hộ còn lại; nhanh chóng phân chia, giao đất sản xuất nông nghiệp (lúa nước, đất màu) và đất lâm nghiệp theo định mức quy định tại Quyết định số 84/QĐ-UBND của UBND tỉnh Lai Châu. Bố trí bổ sung quỹ đất vườn để nhân dân phát triển chăn nuôi và kinh tế phụ gia đình.
- Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp phi nông nghiệp: Xây dựng chính sách đào tạo nghề và xúc tiến chuyển dịch lao động sang tiểu thủ công nghiệp (chế biến đồ mộc, đan lát), dịch vụ buôn bán hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm giảm áp lực thiếu đất canh tác.
- Đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng: Đẩy nhanh tiến độ rải nhựa, cứng hóa các tuyến đường giao thông kết nối liên vùng, liên bản; kiên cố hóa 5,2 km kênh mương thủy lợi Nà Cấu; sửa chữa hệ thống cấp nước tự chảy, lắp đặt nắp đậy bê tông cốt thép cho hệ thống rãnh thoát nước và xây dựng khu xử lý nước thải, rác thải để bảo vệ môi trường.
- Cải tiến công tác khuyến nông, khuyến lâm: Thay đổi phương thức hỗ trợ cây trồng, vật nuôi; lựa chọn giống phù hợp với khí hậu và tập quán canh tác địa phương thay vì đưa các giống từ vùng khác về dễ bị chết hoặc kém phát triển.
Đóng góp thực tiễn của đề tài
Khóa luận đã phản ánh trung thực bức tranh thực tế tại cơ sở: việc di chuyển dân và cấp đất ở đạt kết quả khả quan về diện tích bình quân (379,92 m²/hộ, phù hợp khung quy định 300 – 400 m²/hộ của Quyết định 193/QĐ-TTg). Tuy nhiên, công trình đã chỉ ra được các điểm nghẽn nghiêm trọng: việc chưa thể giao đất sản xuất nông nghiệp, tình trạng không có đất vườn, sự cố cấp nước sinh hoạt và nguy cơ chia cắt giao thông trong mùa mưa lũ. Đây là tài liệu thực chứng phản ánh sát sao khoảng cách giữa văn bản quy hoạch và thực tiễn triển khai.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở mốc năm 2014, khi công trình thủy điện Lai Châu mới hoàn thành giai đoạn đầu di dân và khu tái định cư vẫn đang thi công dở dang (dự án nhà máy đến năm 2017 mới hoàn thành).
- Việc đánh giá biến động thu nhập và đời sống của người dân sau tái định cư chưa thể đo lường toàn diện và dài hạn do tại thời điểm điều tra, các hộ dân mới chuyển đến, chưa được giao đất sản xuất chính thức và đang phải tự khai phá đất nương tạm thời.
- Một số công trình hạ tầng kỹ thuật (trạm y tế, bãi xử lý rác thải, rãnh thoát nước có nắp, đường giao thông) chưa hoàn thành hoặc chưa đưa vào vận hành thực tế nên khóa luận chưa đánh giá được đầy đủ hiệu quả công năng sử dụng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng thời gian khảo sát sau năm 2015 – 2017 khi nhà máy thủy điện Lai Châu chính thức tích nước và phát điện, nhằm đánh giá tác động toàn diện của việc ổn định sinh kế lâu dài.
- Đi sâu nghiên cứu mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp, đánh giá tính khả thi và hiệu quả kinh tế của việc trồng cây cao su (quy hoạch 1 – 2 ha/hộ) và khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ (12,2 ha/hộ) đối với thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Mường Tè.
- Khảo sát chuyên đề về chuyển dịch cơ cấu lao động từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tại các điểm tái định cư vùng cao biên giới.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên, Phát triển nông thôn, Kinh tế tài nguyên và môi trường có thể tham khảo phương pháp điều tra thu thập số liệu thực địa, khung pháp lý chuyên ngành và cấu trúc đánh giá một dự án di dân giải phóng mặt bằng thực tế.
- Cán bộ quản lý chuyên trách: Cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Ban Quản lý dự án di dân tái định cư các huyện miền núi có thể khai thác các số liệu đối chiếu về cơ cấu sử dụng đất ở, đất sản xuất, các định mức hạ tầng và bài học kinh nghiệm xử lý mâu thuẫn bồi thường (như trường hợp 13 hộ còn tồn đọng).
- Phần nội dung đáng chú ý nhất: Các bảng số liệu điều tra thực trạng tại Phần 4 về định mức phân bổ đất ở (379,92 m²/hộ), chi tiết phân bổ 415,380 tỷ đồng kinh phí đầu tư và phân tích thực trạng hẫng hụt tư liệu sản xuất nông nghiệp khi chuyển từ nơi ở cũ (sở hữu 7.800 – 8.600 m² đất) sang nơi ở mới.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô di dân tái định cư tại xã Mường Tè giai đoạn 2012 – 2014 thay đổi như thế nào so với quy hoạch ban đầu?
Theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 18/01/2012 của UBND huyện Mường Tè, kế hoạch ban đầu là di chuyển 445 hộ với 1.856 khẩu của 3 bản (Nậm Củm, Mường Tè, Đon Lạt). Tuy nhiên, đến tháng 04/2014, số hộ thực tế phải di chuyển tăng lên 492 hộ với 1.957 khẩu (tăng 47 hộ, tương đương 10,56% và tăng 101 khẩu, tương đương 5,44%). Nguyên nhân gia tăng chủ yếu là do việc tách hộ từ các gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống.
2. Diện tích đất ở bình quân đã giao cho người dân tại hai cụm tái định cư Nậm Củm và Đon Lạt là bao nhiêu?
Tổng diện tích đất ở đã bàn giao cho 479 hộ dân tại 2 điểm tái định cư là 181.980 m², đạt mức bình quân 379,92 m²/hộ (tại Nậm Củm bàn giao 117.760 m² cho 316 hộ, bình quân 372,66 m²/hộ; tại Đon Lạt bàn giao 64.220 m² cho 163 hộ, bình quân 393,99 m²/hộ). Mức diện tích này đáp ứng quy định từ 300 – 400 m²/hộ đối với hộ sản xuất nông nghiệp theo Quyết định số 193/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
3. Thực trạng giao đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân tái định cư tại xã Mường Tè đến năm 2014 ra sao?
Đến hết năm 2014, huyện Mường Tè hoàn toàn chưa thực hiện việc giao đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ tái định cư theo hạn mức quy định (0,27 ha lúa nước, 0,37 ha cây hàng năm, 0,32 ha cây lâu năm, 1 – 2 ha cao su, 12,2 ha đất lâm nghiệp). Đồng thời, các hộ cũng không được giao đất vườn tại nơi ở mới. Để có lương thực và việc làm, UBND xã Mường Tè phải để người dân tự do đi khai phá đất nương mà chưa có sự quản lý chính thức của Nhà nước.
4. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng hai cụm điểm tái định cư tại xã Mường Tè là bao nhiêu và phân bổ thế nào?
Tổng kinh phí đầu tư xây dựng 2 cụm điểm tái định cư Nậm Củm và Đon Lạt giai đoạn 2012 – 2015 là 415,380 tỷ đồng. Trong đó, chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng là 86,400 tỷ đồng; đầu tư tạo quỹ đất cho hộ tái định cư là 66,200 tỷ đồng; xây dựng công trình giao thông là 44,500 tỷ đồng; công trình công cộng là 55,600 tỷ đồng; hệ thống thủy lợi là 50,000 tỷ đồng; đầu tư cấp thoát nước sinh hoạt là 12,420 tỷ đồng.
5. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu tại khu tái định cư gặp phải những tồn tại cụ thể nào?
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại thời điểm nghiên cứu còn nhiều bất cập: đường nội bộ khu dân cư chủ yếu là đường đất chưa rải cấp phối, gây bùn lầy mùa mưa và bụi bặm mùa khô; 2 cụm Nậm Củm và Đon Lạt xa nhau và đường giao thông kết nối chưa hoàn thiện nên dễ bị cô lập khi có mưa lũ; hệ thống nước sinh hoạt tự chảy hay vỡ đường ống dẫn gây mất nước sinh hoạt thường xuyên; rãnh thoát nước khu dân cư là rãnh hở không có nắp đậy bê tông và thiếu hố gom xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tống Thị Thúy đã đánh giá chi tiết bức tranh triển khai công tác di dân tái định cư dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mường Tè giai đoạn 2012 – 2014 dựa trên hệ thống số liệu thực địa và hồ sơ quản lý đất đai của địa phương. Nghiên cứu khẳng định địa phương đã thực hiện tốt công tác di dời dân cư và bảo đảm định mức đất ở hợp quy chuẩn (379,92 m²/hộ) tại 2 cụm điểm Nậm Củm và Đon Lạt. Dù vậy, việc chậm trễ bàn giao đất sản xuất nông nghiệp, thiếu hụt đất vườn và sự thiếu đồng bộ của hạ tầng cấp nước, giao thông, thoát nước đang là những rào cản lớn đe dọa mục tiêu ổn định sinh kế bền vững của người dân. Các giải pháp bổ sung quỹ đất, đào tạo nghề phi nông nghiệp và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật được đề xuất mang tính sát thực, là cơ sở khoa học hữu ích phục vụ công tác quy hoạch quản lý đất đai và an sinh xã hội tại địa bàn nghiên cứu.