Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên sẵn có mà thiên nhiên đã ban tặng cho con ngƣời. Có vai trò quan trọng trong đời sống, mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con ngƣời. Đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn, không thể tái tạo đƣợc, có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con ngƣời, đối với mỗi quốc gia nếu xét về mặt diện tích thì nó bị giới hạn bởi đƣờng biên giới giữa các quốc gia, là vấn đề liên quan đến tình hình ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Đất đai là nguồn lực to lớn để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Nƣớc ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên tất yếu sẽ chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Nhà nƣớc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc.Trong đó các dự án xây dựng nhà máy thủy điện đòi hỏi phải thu hồi nhiều diện tích đất đai, với tính đặc thù của thủy điện là xây dựng ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng theo nhiều phong tục tập quán khác nhau. Nên việc thu hồi đất làm nảy sinh nhiều vấn đề về kinh tế xã hội, cũng nhƣ ảnh hƣởng tới đời sống của ngƣời dân. Dự án xây dựng thủy điện Lai Châu đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 819/QĐ-TTg, ngày 07/06/2010.
Dự án khởi công xây n 2 dựng vào cuối năm 2010 trên sông Đà, thuộc địa bàn huyện Nậm Nhùn - tỉnh Lai Châu. Công trình dự kiến hoàn thành vào năm 2017. Nhiệm vụ chính của thủy điện là cung cấp điện phục vụ cho ngƣời dân tỉnh Lai Châu, tỉnh Điện Biên và cả nƣớc. Đồng thời góp phần phòng chống lũ vào mùa mƣa và cung cấp nƣớc tƣới tiêu cho vùng trung du và hạ du.
Để hoàn thành công trình thủy điện đòi hỏi mặt bằng xây dựng, nhu cầu về đất rất là lớn. Để có đất cho việc xây dựng trên cần phải di dời và tái định cƣ cho ngƣời dân vùng lòng hồ. Đến nay công tác di dân, tái định cƣ đã và đang thực hiện, cuộc sống của ngƣời dân đã bƣớc đầu ổn định. Tuy nhiên ngƣời dân khu tái định cƣ vẫn còn gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ: Thiếu đất sản xuất, do chuyển đến chỗ ở mới nên phong tục tập quán bị thay đổi, cơ sở hạ tầng chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời dân, số hộ nghèo cao, điều này đã ảnh hƣởng không nhỏ tới mục tiêu của dự án.
Hiện nay tỉnh Lai Châu đang triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể di dân tái định cƣ dự án thủy điện Lai Châu đã đƣợc Thủ tƣớng phê duyệt tại Quyết định số 193/QĐ-TTg, ngày 30/01/2011. Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu của phƣơng án quy hoạch cần phải nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận một cách khách quan về mọi mặt của dự án, đồng thời cần chỉ ra những tồn tại hạn chế trong quá trình di dân tái định cƣ và đƣa ra giải pháp khắc phục, để đảm bảo cho ngƣời dân tái định cƣ ổn định chỗ ở và đời sống trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng. Xuất phát từ những vấn đề trên, đƣợc sự nhất trí của Ban giám hiệu trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Quản lý Tài nguyên, cùng với sự hƣớng dẫn của Th.S Nguyễn Đình Thi em thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác thực hiện tái định cư của dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mường Tè - huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu giai đoạn 2012 - 2014”. Mục tiêu của đề tài Đánh giá viê ̣c thƣ̣c hiê ̣n công tác tái định cƣ của dự án thủy điện Lai Châu trên địa bàn xã Mƣờng Tè - Huyện Mƣờng Tè - Tỉnh Lai Châu và kết quả đạt đƣợc trong giai đoạn 2012 - 2014, đánh giá thực trạng đời sống, thu nhập, việc làm của ngƣời dân xã Mƣờng Tè sau khi chuyển lên khu tái định cƣ.
Đề xuấ t mô ̣t số giải pháp khoa học, phù hợp với thực tế để nâng cao hiệu quả xây dựng khu tái định cƣ tại xã Mƣờng Tè. Yêu cầu của đề tài Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Mƣờng Tè - huyện Mƣờng Tè - tỉnh Lai Châu. Nắm vững các chính sách pháp luật về đất đai, môi trƣờng và các chính sách liên quan khác. Công tác điều tra thu thập tài liệu, số liệu phải khách quan, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng.
Xác định đúng đối tƣợng, đúng mục đích, phạm vi nghiên cứu từ đó xác định những khó khăn tồn tại và đề xuất giải pháp tháo gỡ những khó khăn đó. Đƣa ra đề tài có tính khả thi cao và phù hợp với địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng, giúp sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
Tìm hiểu nắm vững kiến thức thực tế về công tác tái định cƣ. Ý nghĩa trong thực tiễn Qua việc nghiên cứu, đánh giá về công tác tái định cƣ nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất giải pháp để xây dựng, ổn định đời sống của ngƣời dân khu tái định cƣ. Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng. Và bổ sung tƣ liệu cho học tập.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀ I LIỆU 2. Tình hình bồi thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ trên thế giới 2. Tình hình bồi thường, hỗ trợ tái định cư của một số tổ chức trên thế giới 2. Ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng thế giới (WB) là tổ chức đầu tiên đƣa ra chính sách tái định cƣ không tự nguyện, và từng bƣớc nghiên cứu và phát triển.
Năm 1980, WB đƣa ra chính sách chung cho tái định cƣ không tự nguyện. Năm 2004, WB đƣa ra bản hƣớng dẫn hoạt động về tái định cƣ không nguyện. Chính sách tái định cƣ không tự nguyện của WB dựa trên nguyên tắc lựa chọn phƣơng án tái định cƣ ít nhất và có sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, đại diện của bên bị thiệt hại vào thiết kế, giám sát, theo dõi quá trình công việc tái định cƣ. Các tổ chức Quốc tế khác Năm 1990, một số tố chức Quốc tế nhƣ: Trung tâm Liên hiệp quốc tế về định cƣ (United Nation Center of Human Settlement/Habitats); Ủy ban Liên hiệp quốc tế về quyền con ngƣời (UNCHR); Tổ chức Nông lƣơng thế giới (FAO) đã tập trung nghiên cứu về vấn đề thu hồi đất.
Năm 1997 UNCHR đã đƣa ra hƣớng dẫn thực tiễn về thu hồi đất. Đặc điểm chung của các chính sách này là nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án, chi phối bởi pháp luật, chính sách, quy hoạch, thu nhập, thuế ở từng quốc gia đối với việc triển khai trên thực tế có liên quan đến chính quyền địa phƣơng, nhà đầu tƣ, cộng đồng bị ảnh hƣởng và ngƣời dân bị thiệt hại với những vấn đề nhƣ: Tổ chức tốt việc tái định cƣ của cộng đồng dân cƣ bị ảnh hƣởng và ngƣời dân bị thiệt hại gắn với môi trƣờng sống, việc làm, sinh hoạt cộng đồng n 5 liên quan đến phong tục, tập quán, văn hóa, tâm linh; Bảo đảm quyền hƣởng lợi của chính quyền địa phƣơng, cộng đồng dân cƣ bị ảnh hƣởng và ngƣời dân bị thiệt hại từ thuế, phí, giá ƣu đãi từ dự án; Sự gắn kết giữa dự án và cộng đồng dân cƣ địa phƣơng nhằm đảm bảo tự chủ,bình đẳng giữa hai bên và sự gắn kết quyền lợi lâu dài. Nguyên tắc chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan đến dự án đã đƣợc áp dụng trong nhiều dự án triển khai ở các nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đặc biệt các dự án thủy điện cũng áp dụng nguyên tắc này.
Tình hình bồi thường, hỗ trợ tái định cư của một số nước trên thế giới 2. Trung Quốc Là một nƣớc XHCN, Trung Quốc đã thi hành chế độ công hữu hóa XHCN về đất đai, gồm hai loại: Đất đô thị thuộc sở hữu nhà nƣớc; Đất nông thôn, ngoại thành thuộc sở hữu tập thể. Theo Hiến pháp sửa đổi mới nhất năm 2005 quy định: Quốc gia do sự cần thiết vì lợi ích công cộng có thể căn cứ pháp luật để trƣng thu hay trƣng dụng đất đai và trả bồi thƣờng. Trƣng thu là áp dụng đối với đất thuộc sở hữu tập thể do phải chuyển quyền sở hữu tập thể sang sở hữu nhà nƣớc, còn trƣng dụng thì áp dụng đối với đất thuộc sở hữu nhà nƣớc vì chỉ thay đổi mục đích sử dụng đất.
Ở Trung Quốc, luật đất đai ra đời năm 1986, trải qua nhiều lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1988, 1998, 2004 đã chia đất đai thành ba loại: Đất nông dụng, đất dùng vào xây dựng (kiến thiết) và đất chƣa lợi dụng. Luật quy định mọi đơn vị và cá nhân khi cần đất để tiến hành xây dựng thì phải căn cứ vào pháp luật mà xin sử dụng đất thuộc sở hữu nhà nƣớc (trừ trƣờng hợp xây dựng nhà ở nông thôn, cơ sở hạ tầng và công trình công cộng). Nếu nhà nƣớc chấp nhận đề nghị đó thì trƣng dụng đất thuộc sở hữu nhà nƣớc để đáp ứng nhu cầu, nếu không có hoặc không đủ loại đất này thì trƣng thu đất thuộc sở hữu tập thể để chuyển sang đất thuộc sở hữu nhà nƣớc. n 6 Trung Quốc rất coi trọng việc bảo vệ đất canh tác.
Luật còn quy định cụ thể: Đất ruộng cơ bản phải chiếm từ 80% trở lên đất canh tác của mỗi tỉnh. Cấm không đƣợc chiếm dụng đất canh tác để xây lò gạch, lò mổ hoặc tự ý xây nhà không đƣợc sự cho phép của chính quyền… Việc trƣng thu ruộng đất cơ bản không đƣợc vƣợt quá 35ha đối với đất canh tác, không đƣợc vƣợt quá 70ha đối với đất khác và việc trƣng thu phải đƣợc Quốc vụ viện phê chuẩn. Khi trƣng thu đất đai thì phải bồi thƣờng theo hiện trạng sử dụng đất, tiền hỗ trợ an cƣ tính theo số nhân khẩu của hộ gia đình và tiền hoa màu.