CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ 1. Biến đổi khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu Báo cáo đánh giá lần thứ năm (AR5) của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy BĐKH đã xảy ra trên quy mô toàn cầu: Nhiệt độ trung bình toàn cầu có xu thế tăng lên rõ rệt kể từ những năm 1950, nhiều kỷ lục thời tiết và khí hậu cực đoan đã được xác lập trong vài thập kỷ qua. Khí quyển và đại dương ấm lên, lượng tuyết và băng giảm, mực nước biển tăng, nồng độ các khí nhà kính tăng.
Biến đổi của nhiệt độ có xu thế chung là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao so với vùng vĩ độ thấp; tăng nhanh hơn ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng ven biển và hải đảo; nhiệt độ tối thấp tăng nhanh hơn so với nhiệt độ tối cao. Số ngày và số đêm lạnh có xu thế giảm; số ngày và số đêm nóng, số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên quy mô toàn cầu [88]. Lượng mưa có xu thế tăng ở đa phần các khu vực trên quy mô toàn cầu trong thời kỳ 1901-2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở các vùng vĩ độ trung bình và cao; ngược lại, nhiều khu vực nhiệt đới có xu thế giảm.
Xu thế tăng/giảm của lượng mưa phản ánh rõ ràng hơn trong giai đoạn 1951-2010 so với giai đoạn 1901-2010. Trong đó, xu thế tăng rõ ràng nhất ở khu vực Châu Mỹ, Tây Âu, Úc; xu thế giảm rõ ràng nhất ở khu vực Châu Phi và Trung Quốc [88]. Theo kịch bản BĐKH cho Việt Nam, trong thời gian qua, khí hậu của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể, thể hiện qua các biểu hiện và xu thế sau đây: [7] - Nhiệt độ, hầu hết các khu vực trên cả nước đều có xu thế tăng. Thời kỳ 1958- 2014, nhiệt độ trung bình năm cả nước tăng khoảng 0,62oC, trong đó, riêng giai đoạn 1985-2014 tăng khoảng 0,42oC.
Trung bình mỗi thập kỷ, nhiệt độ tăng khoảng 0,10oC. Nhiệt độ tại các khu vực ven biển và hải đảo tăng ít hơn so với các khu vực ở sâu trong đất liền. Nhiệt độ tăng cao nhất vào mùa đông, thấp nhất vào mùa xuân. Khu vực có mức tăng nhiệt độ lớn nhất là Tây Nguyên, khu vực có mức tăng nhiệt độ thấp nhất là Nam Trung Bộ.
Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 8 - Lượng mưa trung bình năm cả nước có xu thế tăng nhẹ trong thời kỳ 1958 - 2014. Lượng mưa tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân, giảm vào các tháng mùa thu. Trong gần 60 năm qua, lượng mưa năm có xu thế giảm ở các khu vực phía Bắc (từ 5,8 đến 12,5%), giảm nhiều nhất là khu vực Đồng bằng Bắc Bộ (12,5%) và có ở các khu vực phía Nam (từ 6,9 đến 19,8%), tăng nhiều nhất ở khu vực Nam Trung Bộ (19,8%). - Ở hầu hết các khu vực trên cả nước, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) đều có xu thế tăng rõ rệt, mức tăng cao nhất trong thời kỳ 1961-2014 lên tới 1°C/thập kỷ; số ngày nóng (Tx ≥35°C) cũng có xu thế tăng, đặc biệt là ở Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2 - 3 ngày/thập kỷ, tuy nhiên, giảm tại một số vị trí cục bộ ở một số khu vực khác.
Mưa cực đoan có xu thế biến đổi khác nhau giữa các vùng khí hậu: Giảm ở hầu hết các vùng thuộc Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ và tăng ở phần lớn các vùng khí hậu khác. Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn. - Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông ảnh hưởng và đổ bộ vào Việt Nam trong thời kỳ 1959-2015 có xu thế ít biến đổi. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bão mạnh (trên cấp 12) có xu thế tăng nhẹ; mùa bão kết thúc muộn hơn và đường đi của bão có xu thế dịch chuyển về phía Nam với nhiều cơn bão đổ bộ vào khu vực phía Nam hơn.
Hoạt động và ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới đến nước ta trong những năm gần đây có những diễn biến bất thường. - Tình trạng dễ bị tổn thương và phơi bày trước hiểm họa đang gia tăng [54] Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động bởi BĐKH. Theo báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan, sự gia tăng mức độ phơi bày trước hiểm họa của con người và tài sản là nguyên nhân chính của sự gia tăng thiệt hại kinh tế dài hạn do thiên tai liên quan đến thời tiết và khí hậu. Xu hướng dài hạn về thiệt hại kinh tế do thiên tai có liên quan đến sự phát triển và tăng dân số, tuy không thể quy hết cho BĐKH, nhưng vai trò của BĐKH cũng không thể loại trừ.
Đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam những giá trị Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 9 kinh tế của tài sản phơi bày trước hiểm họa ngày càng tăng nhanh, còn những thay đổi về cực đoan khí hậu thì tương đối chậm. Mức độ tổn thương do BĐKH là khác nhau giữa các vùng tùy thuộc điều kiện địa lý và xã hội của từng vùng. Khu vực ven biển miền Trung và ĐBSCL có mức độ phơi bày cao trước những tác động của BĐKH nhưng lại có mức trung bình về độ nhạy cảm trước những thay đổi được dự đoán của khí hậu. Trong khi đó, khu vực miền núi phía Bắc tuy mức độ phơi bày không cao nhưng lại là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao, đồng nghĩa với mức độ nhạy cảm cao trước những thay đổi được dự đoán của khí hậu.
- Sự gia tăng rủi ro do biến đổi khí hậu [54] Vùng núi phía Bắc và miền Trung sẽ chịu nhiều rủi ro hơn do lũ quét và trượt lở đất khi chế độ mưa thay đổi, với tần suất và cường độ mưa lớn ngày càng nhiều. Trong khi đó, những vùng chịu rủi ro cao hơn và dễ bị tổn thương hơn do hạn hán và thiếu nước, tăng hoang mạc hoá ở Việt Nam bao gồm: Vùng duyên hải Trung Bộ và Nam Trung Bộ, đồng bằng Bắc Bộ, vùng trung du và khu vực Tây Nguyên. Đối với ĐBSCL, các trận lũ lớn xảy ra vào những năm giữa thế kỷ 21 kết hợp với NBD khoảng 30 cm sẽ làm cho diện tích ngập lụt tăng trên 25% so với diện tích ngập lụt trong trận lũ lịch sử năm 2000, diện tích ngập lũ có thể chiếm gần 90% diện tích tự nhiên ĐBSCL. Ngoài ra, ĐBSCL cũng chịu tác động của sụt lún đất do lún địa chất và khai thác nước ngầm quá mức.
Trong vòng 25 năm qua, khu vực này đã sụt lún trung bình khoảng 18 cm. Tốc độ sụt lún đất dao động trong khoảng 1,1-2,5cm/năm, gấp khoảng 10 lần tốc độ nước biển dâng (Minderhoud, 2017). Theo dự tính, với tốc độ khai thác nước ngầm như hiện tại, ĐBSCL có thể sụt lún đến 88 cm vào năm 2050. Nhiều vị trí thuộc khu vực ĐBSCL sẽ ngập đến 100 cm vào giữa thế kỉ 21 do tác động kết hợp giữa sụt lún đất và nước biển dâng.
Trong mỗi vùng, nhóm người nghèo, DTTS, những người có thu nhập phụ thuộc vào khí hậu, người già, phụ nữ, trẻ em, người bị bệnh tật được xác định là nhóm có mức tổn thương cao nhất do BĐKH. Phụ nữ nhất là nhóm phụ nữ DTTS có mức độ tổn thương cao trước tác động bất lợi của BĐKH do họ bị hạn chế hơn về khả năng Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 10 tiếp cận giáo dục và ít có cơ hội tham gia các công việc phi nông nghiệp. Khu vực có mức độ phơi bày cao trước các rủi ro về khí hậu cực đoan và thiên tai, có mật độ dân số đông sẽ có mức độ dễ bị tổn thương cao và nếu năng lực y tế hạn chế thì sẽ có mức độ tổn thương rất cao. Các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao trước BĐKH là nông nghiệp và an ninh lương thực, các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học (ĐDSH), tài nguyên nước, sức khỏe cộng đồng, nơi cư trú và hạ tầng kỹ thuật do đây là những ngành/lĩnh vực có mức độ phơi bày và mức độ nhạy cảm cao với thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 35% tổng diện tích của cả nước và tạo ra khoảng 47% việc làm, nhiều hộ gia đình vẫn dựa vào nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực. BĐKH là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững (PTBV). Sự gia tăng rủi ro và tác động tiềm tàng của BĐKH đối với các lĩnh vực, các khu vực, cộng đồng và cơ sở hạ tầng liên quan bao gồm: Dải ven bờ với chiều dài hơn 3.000km và các vùng biển hải đảo Việt Nam là vùng sẽ chịu nhiều rủi ro gia tăng và các nguy cơ, tác động tiềm tàng nhiều nhất liên quan đến BĐKH và nước biển dâng. Tương tự như vậy, rủi ro sẽ ngày càng gia tăng đối với các vùng đồng bằng châu thổ và đô thị lớn, đặc biệt là các đô thị ven biển do mật độ dân cư cao, quy hoạch đô thị và quy hoạch không gian chưa xét đến giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH.
Đây cũng là nơi tập trung nhiều tài sản, công trình hạ tầng và các nhóm dân cư dễ bị tổn thất nhất. Vùng núi phía bắc và Trung Bộ sẽ chịu nhiều rủi ro hơn do lũ quét và trượt lở đất khi chế độ mưa thay đổi, với tần suất và cường độ mưa lớn ngày càng nhiều. Những vùng có rủi ro cao hơn và dễ bị tổn thương hơn do hạn hán và thiếu nước dẫn đến hoang mạc hoá bao gồm: Duyên hải Trung Bộ và Nam Trung Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, trung du và khu vực Tây Nguyên. Luận án Tiến sĩ Quản lý đô thị 11 1.
Tổng quan các nghiên cứu về tri thức cộng đồng Tri thức cộng đồng (TTCĐ) của DTTS luôn tiến hóa và phát triển cùng kiến thức khoa học hiện đại, chúng có vai trò quan trọng trong tiến trình tồn tại, phát triển của cộng đồng DTTS trên thế giới. Từ khá sớm, TTCĐ của cộng đồng các DTTS đã nhận được sự quan tâm của nhiều học giả nghiên cứu ở các phương diện khác nhau trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng DTTS.