CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE DE BIEN VÀ CÔNG TÁC QUAN LY DE BIEN 1-1 Tổng quan để biển Việt Nam và Nam Định 11-1. Ting quam hệ thông dé bién ở Việt Nam Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 2800 km đê bi thuộc 28 tinh và thành phố, bao vệ khoảng 0,70 triệu ha đất canh tác, khu đô thị, khu Công nghiệp, Cảng. 5 triệu din trong đó 85% sống chủ yếu dựa vio Nông nghiệp. Ti năm 1410 Việt Nam bắt dầu dip để biển.
Việc xây dựng dé biển vừa là biện pháp phòng, chống vừa là biện pháp thích ứng với bão lụ, nước biển dâng và xim nhập mặn. Tại Ninh Bình, năm 1471 đắp để Hồng Đức chạy từ bắc Yên Mô đến Phụng Công, nằm sâu trong đất liền cách bở biển hiện nay khoảng 25 km. Dé biển thứ hai được đắp năm 1830 ở Thần Phù ~ Điễn Hộ cách con để thứ nhất khoảng E km vớ thời gian lẫn biển đài đến 369 năm, Con dé thứ ba tiến ra biển thêm chừng 7,5 km được đắp vào những năm 1§30 - 1927 (97 năm). Con đề thử tư đắp vào năm 1959 (32 năm san) tiến thêm ra biển 8 km nữa é biển Thanh Hoá, Hà Tĩnh và Bình Định (Đề Đông) được hình thành từ những năm 1929 — 1930, Hầu hết để biển, để cia sông các tinh Miễn Trung và Nam Bộ được dip khoảng sau năm 1975 [1].
Dé biển là hệ thống đập, cổng, kẻ, dé (bằng đắt, đá, beton cốt thép.) ngăn mặn bảo vệ cửa sông, bở bi khu dan cư và những hoạt động kinh tế ven biển và đảm bảo an ninh quốc phòng. Khác với đê sông, dé biển làm việc thường xuyên hàng ngày còn đê sông chỉ lâm việc theo mùa lũ. Bờ biển nước ta đài 3354 km, song mới có 1400 km dé trực tiếp với biển và khoảng, 1400 km đề cửa sông, chiếm 42. Trong đó hai tinh Ninh Thuận và Bình Thuận có thể coi như chưa có dé biển (Ninh Thuận có 6,23 km, Bình Thuận có 10,71 km dé biển song phần lớn 1a đề cửa sông Cái Phan Rang, Phan Thiết và kẻ Mũi Né), Hệ thống để biển của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được quan tâm đầu tư củng cố và nâng cấp.
Tuy nhiên những tuyển dé mới được nâng cấp chỉ chống được bão tới cấp 9 gặp mực nước triều tin suất 5%, Các tuyển dé hiện nay chưa đủ ki hồng đỡ bão lũ cắp cao hơn. Đặc biệt hiện nay nhiễu cơn bão mạnh cắp 12 hoặc trên cắp 12 đỗ bộ vào nước ta vì thé Việt Nam đã hết sức quan tâm đầu tư các dự án như dự én đầu tư nâng cắp hệ thing dé biển tinh Nam Hà - PAM 5325; hai Chương trình nâng cấp để biển các tinh ven biển, bao gdm Chương trình ning cấp để biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam từ năm 2006; Chương trình nâng cấp dé biển từ Quang Ngãi đến Kiên Giang từ năm 2009 đến năm 2020 với tổng múc đầu tr là 19.481 tỷ cđồng để nâng cấp dé biển đi qua 15 tỉnh, thành từ miễn Trung và đồng bằng sông Cửu Long, gồm có xây dựng bở kẻ, mở rộng trải nhựa mặt dé kết hợp với làm đường giao thông, trồng cây chấn sóng.và hàng năm Chỉnh phủ đầu tư kinh phí thường xuyên cho công tác tu bổ hệ thống dé biển phía Bắc bảo đảm chéng được gió bio cấp 9 với mức triều cường tin suất 59%, Nhiễu tuyển để biển chưa được nâng cấp, nhất là các tuyến do địa phương quản lý mới bảo đảm chống đỡ được gió cấp 8 khi triều ở mire trung bình. Kết qua từ những chương trình đầu te nâng cắp dé biển kể rên của chính phủ và sự vào cuộc tích cực của các địa phương với mục tiêu đảm bảo an toàn cho người din phục vụ phát triển kinhtế cho đến nay hẳu như các tuy 4 biên có khả năng chẳng được với tin ø it bão thiết kế - bão cấp 10 gặp mực nước tiểu tin suất 5%, và các tuyển dé biển cũng trở thành tuyển giao thông liên huyện, liên xã phục vụ. phát triển kinh tế bién đảm bảo an ninh quốc phòng.
Bên cạnh những kết quả đó vẫn sòn một số tổn wai edn được quan tâm giải quyết để nâng cao hiệu quả của uyễn để biển Việt Nam ~ Nhiều tuyển dé bin chưa bao giờ được đầu nr cũng cổ, ning cấp tgp tục bi xuống Tuyển nhỏ le, manh min chưa khép kin nên hiệu quả chưa cao. ~ Xây dựng chưa đồng bộ, - Bãi biển liên tục bị hạ thấp = B8 được dip trên nn tự nhiên, mm yếu ~ Nhiều cổng đưới đê biển xây dựng đã lâu, cổng nhỏ, yêu, chiều đãi cổng so với để mới được nâng cắp bị ngắn, mức bảo đảm an toàn thấp, Vì vậy dé xây dựng được tuyến đê biển đảm bảo chất lượng, an toàn trong mùa bão thì việc xây dựng hệ thống chính sich ta bổ cũng cổ hệ thông để in đồng một vai rô rấ «quan trong gốp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội bin vững, đặc biệt là kinh tế biển ở nước ta, 1. Ting quan hệ thẳng đê bin tink Nam Định Bờ biển Nam Định kéo di từ của sông Hồng đến cửa sông Diy là một dii bở biển phẳng, tương đổi đơn giản, thoải din từ bờ ra khơi. Nhin chung, bãi biển tinh Nam Dinh hep và thấp không có vật cản che chin (từ 2 bãi bội Côn Lu, Cdn Ngạn cũa huyện Giao Thuỷ; Côn Xanh, in Marcia huyện Nghĩa Hưng).
Phan lớn bi biển Nam Dinh thuộc vùng biển lẫn, bãi thoái nghiêm trọng, chiều rộng bãi trung bình từ 100 + 150 m, Nhiều nơi không có bãi, biển tiến sát chân dé như Cổ Vậy, Giao Phong- huyện Giao Thủy: Hải Lý, Hải Triều, Hải Hòa, Hải Thịnh - huyện Hải Hậu; Nghĩa Phúc - huyện Nghĩa Hưng. Cao độ bãi trung bình (0.50), cá biệt có nơi cao trình bãi dưới (1. “Tổng chiều dài toàn tuyển dé biển Nam Định dài 91,981 km. Trong đồ « Tuyến đê huyện Giao Thủy dai 32,333 km (cỏ 15,5 km trực diện với biển) « Tuyển dé Hải Hậu dài 33,323 km (Có 20,5 km trực diện với biển) + Tuyển để Nghĩa Hưng dài 26,325 km (Có 4,8 km trực diện với biển) Ba tuyển dé này được nối iếp vào các uyến để hữu sông Hằng, dé tả - hữu sông Sỏ, để tả - hữu sông Ninh Cơ và đê tả sông Day tạo thành một hệ thông đê khép kín.
Tuyến để biển Nam Định bảo vệ 743.100 người dân, chủ yếu là đồng bảo công giáo và 71.975 ha canh tic trong đó đề biển Giao Thủy bảo v ha 300 has Hải Hậu : 27.090 và Nghĩa Hưng ; 11.085 ba u để xây ra vỡ để vi c khắc phục hậu quả do nhiễm mặn từ 5-7 năm. Thigt hại lớn hơn nhiễu lần so với đề sông. Trong số 91 km dé biển thuộc 3 huyện: Hải Hậu (33 km), Nghĩa Hưng (26 km), Giao Thuỷ (32 km) có khoảng. trên 50 km dé di qua khu vực nền cát, it đắp dể là cát va cát pha.
Khoảng 45 km đề trực điện với biển, phía trong đồng là thing đảo, thùng đầu; đê thường xuyên chịu tác động gây hại của sóng do triều cường, gió mạnh, áp thắp nhiệt đối va bão [2]. Từ sau 1954 đến nay hàng năm Nhà nước đã phải đầu tư nhiều tỷ đồng dé tu bổ, sửa. xử lý đột xuất những sự cố sau mỗi trận bão, mỗi đợt gió mùa Đông bắc vẻ. "Trong khoảng 50 năm nay nhiều đoạn đê xung yếu đã phải di chuyên tuyến li sâu vào 6 trong khu vực nội đồng đến 2, 3 lin, mỗi lin gây tốn kém hàng chục tỷ đồng, hàng chục vạn ngây công lao động và lâm mắt hing trăm ha đất canh tác, Năm 2000 triển khai thực hiện dự ân PAM 5325 do Liên hiệp quốc ải trợ ning cắp toàn tuyển đê biển Nam Định.
Đến sau cơn bảo số 7 năm 2005 toàn tuyển để biển Nam Định đã được đầu tư nâng cấp kiên cố gần 43 Km (Hải Hậu: 23,2 km; Giao Thuy:5.2km; Nghĩa Hưng: 44 km). Trong 49 cổng qua tuyén để biển côn gin 10 cống xây dung từ trước những năm 1970, cổng ngắn so với mặt cắt để và đã xuống cấp cin phải sửa chữa hoặc xây dụng mới như cúc cổng: Hoành Lộ, Cin Tau, Công ‘Doan (Giao Thuy); số 4, Hạ Trại (Hải Hậu), Thanh Hương, Ngọc Lâm (Nghĩa Hưng). Những đoạn dé đã được củng có vững chắc sau bão số 7 năm 2005 đảm bảo chống. Auge tổ hợp bão cắp 10 gặp mức nước ti tin suất 5% (+2.
Những đoạn dé biển khác kết hợp với chủ động phương án hộ đề, phương án bảo vệ trọng diễm chống ạt bão theo phương châm 4 ti c đảm bảo tr để Biển an toàn chống duge bão cấp 9 trùng với mức nước triéu tin suất 5% (+2,29m) tại Văn Lý - Các đoạn dé ở vùng cửa sông: Dé cửa sông các đoạn dé ở ving cửa sông (hiện được tính la để biển): Có tổng chiều dài.648m, thân đê chủ yếu được đắp bing đất thị, đất pha cát quy mô nhỏ và thấp phía ngoài sông có bãi bồi nhưng cao trình mặt bãi thấp từ ( 0. Khi thuỷ triều lên hầu hết bãi bi ngập sâu, sóng, ding chảy vũng cửa sông trực. tác động vào thân đê, khi gặp bão lớn, sóng có thể trân qua mặt đê gây vỡ dé. Hiện cao trình dé cửa sông những đoạn chưa được nâng cấp từ (33,60 + 13,80), chigu rộng mặt đề (3.
Những đoạn đã được nâng cấp cao trình đình dé +4.5, chiễu rộng 5m mái phía sông m, ~ Các đoạn để biển: cổ tổng chiễu đãi.23 kem, thân để chủ yếu đắp bằng đất tit pha ct, mặt cắt ngang một số đoạn nhỏ, cao trinh đình thấp và bị ạt lở. Bai biển ngoài để thấp và hẹp do bị xối mòn liê tụ, khi thuỷ tiểu xuống bãi rộng trung bình 100 + 150 mm nhiều đoạn không còn bai (Hải Lý, Hải Triều, Hai Chính). Khi thuỷ triều lên bai bị ngập sâu, sing và ding chảy ven bờ thường xuyên tic động trực tiếp vio thân để gây xói, sat lở mái, nghiêm trọng nhất là khi có bão hoặc gió mùa Đông Bắc.Toản tuyển có khoảng trên 50 km để đi qua khu vue nén cát, đất đắp đề là cất và cát pha, trong đồ có khoảng 45 km phía trong đồng là thing đảo, thing đầu địa hình phúc tạp. Để thường xuyên chịu tác động trực tgp của sóng do tiểu cường, gid mùa đông bắc mạnh, áp thấp nhiệt đối và bão gây ra.