Chương 1: CÁC KHÁI NIỆM cơ BẢN VÊ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. CÁC KHÁI NIỆM Cơ BẢN 1. Khái niệm về tài nguyên Tài nguyên (resources): hiếu theo nghĩa chung nhất, là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới. Nó là đối tượng sản xuất của con người.
Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng và khai thác ngày càng gia tăng. Tài nguyên có thể chia làm 2 loại lớn: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội. Taz nguyên thiên nhiên (TNTN): là những dạng vật chất tồn tại sẵn có (hoặc đang hình thành) trong tự nhiên, được coi là có giá trị ở dạng chưa bị biến đổi. Giá trị của nguồn tài nguyên thiên nhiên nằm ở trữ lượng sẵn có trong tự nhiên và cầu đối với nguồn tài nguyên đó.
Tài nguyên thiên nhiên có thế được phân loại theo các cách khác nhau. Ví dụ, theo bản chất tự nhiên có thể phân thành: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biến,. Phố biến nhất là dựa theo khả năng tái tạo của chúng trong thiên nhiên mà phân thành hai loại là tài nguyên tải tạo và íâz nguyên không tải tạo. Tài nguyên tải tạo: là những tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục từ vũ trụ (như năng lượng mặt trời) và theo các chu trình của thiên nhiên chúng có thế tự duy trì và tái tạo cả về số lượng cũng như chất lượng, ví dụ như tài nguyên nước, tài nguyên sinh học.
Nước trên đại dương bị bốc hơi do bức xạ của Mặt Trời, hơi nước sau đó lại theo các hoàn lưu chuyển vào trong đất liền và tạo thành mưa rơi xuống, bố sung nước hàng năm cho lưu vực sông vào các tháng mùa mưa. Lượng nước này qua quá trình chảy tràn trên mặt đất hoặc trong các tầng đất sát mật hoặc dưới sâu sẽ xuống các sông hồ, các tầng chứa nước ngầm. Một phần của lượng nước này có thể qua sự sử dụng của con người, nhưng cuối cùng chúng cũng quay trở lại đại dương. Rõ ràng nhờ có chu trình thủy văn như trên mà nước trên các lưu vực sồng có thể tái tạo hàng năm cả về số lượng cũng như chất lượng, nên nước có thể coi là một tài nguyên tái tạo.
Tài nguyên sinh học, ví dụ như các loài thực vật nhờ sử dụng các chất dinh dưỡng và nước do rễ cây hút từ đất lên và quá trình quang hợp của lá có sử dụng năng lượng bức xạ của Mặt Trời đã tạo ra sinh khối thực vật khiến cho cây lớn lên, 13 ra hoa kết trái. Qua các mùa trong năm, các lá già rụng xuống thì các lá non lại sinh ra, lớp các cây già cỗi chết đi lại có lớp các cây non mọc lên thay thế. Vì thế, các tài nguyên sinh học cũng có thể coi là các tài nguyên có thể tái tạo. Các nguồn tài nguyên tái tạo mặc dù có khả năng tái tạo để hồi phục theo một chu trình nào đó, nhung khả năng này cũng chỉ trong một giới hạn nhất định.
Neu khai thác quá mức nguỡng cho phép của tài nguyên hay sử dụng tài nguyên không họp lý, không chú ý bảo vệ tài nguyên, thì khả năng tái tạo của tài nguyên sẽ bị giảm sút, ảnh hưởng đến việc sử dụng của con người. Cũng vì thế, cùng với việc khai thác sử dụng các tài nguyên có thể tái tạo, ngoài việc phải tiết kiệm đế nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên còn phải đặc biệt quan tâm tới bảo vệ môi trường (BVMT). Tài nguyên không tải tạo: là tài nguyên được tồn tại một cách hữu hạn, nó sẽ mất đi hoặc bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu qua quá trình sử dụng của con người. Các loại khoáng sản và nhiên liệu hoá thạch, như than đá trong thiên nhiên, khi bị sử dụng sẽ bị biến đổi không thể trở lại như trạng thái ban đầu nữa, những thồng tin di truyền bị mai một sẽ biến mất không còn thấy trong tự nhiên được coi là những tài nguyên không tái tạo.
Thực ra, về mặt lý thuyết thì các tài nguyên này cũng có khả năng được tái tạo một cách tự nhiên trong khoảng thời gian dài hàng trăm triệu năm, nhưng theo yêu cầu của đời sống thực tế của con người thì phải coi chúng là những tài nguyên không tái tạo. Các nguồn tài nguyên không tái tạo do bị giới hạn về trữ lượng, nếu khai thác, sử dụng 0 ạt thì theo thời gian, đến một thời diêm nào đó từng loại tài nguyên sẽ bị cạn kiệt và sẽ không còn đủ cho con người sử dụng nữa. Rõ ràng rằng sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiết yếu trong tương lai là không thế tránh khỏi và đó sẽ là một nguy cơ đối với sự phát triến của nhân loại nếu con người ngày nay không có giải pháp hợp lý đế giải quyết. Vì thế, đế bảo tồn tài nguyên cho sử dụng lâu dài, trong sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên, nhất là đối với các tài nguyên không tái tạo con người phải sử dụng sao cho hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Việc sử dụng tài nguyên phải làm sao vẫn đáp ứng yêu cầu vật chất của con người nhưng lại kéo dài được tối đa thời gian dẫn đến thời điểm cạn kiệt của từng loại tài nguyên. Mặt khác, đế đối phó với tình trạng cạn kiệt của từng loại tài nguyên không thế tránh khỏi trong tương lai, trong mỗi thời đại, con người phải quan tâm tới việc đằu tư nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển các phương pháp thăm dò để tìm những nguồn tài nguyên, tìm nhũng nơi cung cấp mới, không loại trừ cả ở những hành tinh khác trong hệ mặt trời và xa hơn, hoặc nghiên cứu để sử dụng các nguồn năng lượng mới, tìm các loại vật liệu mới có thể thay thế các vật liệu sắp bị cạn kiệt. Ví dụ 14 như phải tập trung nghiên cún và phát triến công nghệ đế có thế sử dụng rộng rãi nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt trong tương lai khi mà nguồn than đá, dầu mỏ. Td/ nguyên xã hội (TNXH): là một dạng tài nguyên đặc biệt của Trái đất, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tố chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.
Sự phát triển của cuộc sống nhân loại trên Trái đất phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực và năng lực sáng tạo của con người. Vì thế, con người là một vốn quý cùa mồi quốc gia và luôn được coi là một nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng cần phải biết khai thác sử dụng và phát huy cho sự phát triển của nhân loại. Khái niệm về môi trường Môi trường của một sự vật nào đó, theo nghĩa chung nhất, là tổng hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, tác động trực tiếp hay giản tiếp tới sự tồn tại và phát triển của sự vật đó. Bất cứ một vật thế hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định và nó luôn luôn chịu tác động của các yếu tố môi trường đó.
Theo Luật BVMT 2014 thì: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đôi với sự tôn tại và phát triên của con người và sinh vật”. Khái niệm này coi môi trường gồm các vật chất tự nhiên như đất, nước, không khí. và một số dạng vật chất nhân tạo như các công trình xây dựng, khu dân cư, khu sản xuất, khu di tích lịch sử,. Do vậy, có thế coi đây là khái niệm môi trường theo nghĩa hẹp vì thiếu nhiều yếu tố xã hội nhân văn và hoạt động kinh tế.
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra một định nghĩa đầy đủ và ngắn gọn hơn về môi trường: “Môi trường là tông thê các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay giản tiếp lên phát trỉến, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bât kỳ”. Theo định nghĩa này thì môi trường nói chung được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản: - Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: Đất, nước, không khí, động thực vật, các hệ sinh thái, các trường vật lý (nhiệt, điện từ, phóng xạ). - Các thành tố xã hội nhân văn gồm: Dân số, động lực dân cư (tiêu dùng, xả thải), nghèo đói, giới tính, dân tộc, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, luật chính sách, hương ước, lệ làng, tố chức cộng đồng xã hội,. - Các điều kiện tác động (chủ yếu là hoạt động phát triến kinh tế) bao gồm: các chương trình, dự án phát triến kinh tế, hoạt động quân sự, chiến tranh,.
các hoạt động 15 kinh tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, du lịch, xây dựng và đô thị hóa), công nghệ kỹ thuật quản lý. Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, bảo đảm cho cuộc sống và sự phát triển của con người. Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau. Có thế phân loại môi trường theo các đặc trung sau: * Theo chức năng, môi trường được phân thành: - Môi trường tự nhiên (Natural Environment): bao gồm các yếu tố tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, sinh vật,.
- Môi trường xã hội (Social Environment): là tổng thể các quan hệ giữa người và người như: luật lệ, thế chế, cam kết, quy định, ước định, hương ước,. ở các cấp khác nhau. - Môi trường nhân tạo (Artifical Environment): là tất cả các yếu tố tự nhiến, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống của con người. * Theo sự sống, môi trường được phân thành: - Môi trường vật lỷ (Physical Environment): là các thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên như thạch quyển, thủy quyển, khí quyển.
Hay nói một cách khác, môi trường vật lý là môi trường không tồn tại sự sống của sinh vật. - Ẳ/ổ/ trường sinh học (Bio-Environment): là thành phần hữu sinh của môi trường, hay nói cách khác là môi trường mà ở đó có diễn ra sự sống: các hệ sinh thái, các quần thế thực vật, động vật, vi sinh vật và cả con người.