Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tiếp nhận và giải quyết rất nhiều ý kiến phản ánh, các vụ thưa kiện kéo dài có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường, chủ yếu từ rác thải. Gia tăng dân số đi cùng với sự gia tăng tốc độ phát sinh rác thải đã làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm trên địa bàn tỉnh, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân. Nguyên nhân xuất phát từ những năm đầu thế kỷ 21, để giải quyết lượng rác thải đô thị phát sinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã thành lập một số bãi chôn lấp tại các huyện, thị xã. Tuy nhiên, đa số đều là bãi chôn lấp hở, không hợp vệ sinh nên đã nảy sinh ô nhiễm môi trường tại khu vực chôn lấp và xung quanh.
Trước tình trạng đó tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quyết định đóng cửa các bãi chôn lấp tạm, toàn bộ lượng rác thải phát sinh sau đó được đem về xử lý tại Khu xử lý Tóc Tiên. Việc đóng cửa các bãi rác nhưng không xử lý lượng rác đã chôn lấp trước đó tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm tại các khu vực này, do quá trình phân hủy rác thải vẫn tiếp diễn, có thể tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Từ năm 2016, dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, thành phố Vũng Tàu đã tiến hành cải tạo chất lượng môi trường tại khu vực các bãi rác cũ như một phần bãi Phước Cơ (TP.Vũng Tàu), bãi Đá Bạc (Châu Đức), bãi Công Trắng (TP.Bà Rịa) bằng nhiều biện pháp. Chủ yếu sử dụng hình thức đào, xúc khối lượng CTRSH tại các bãi rác tạm và vận chuyển về Khu xử lý chất thải tập trung 100 hecta để chôn lấp theo quy trình hợp vệ sinh.
Phương án trên giúp giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường tại các bãi rác nhưng tốn nhiều kinh phí đầu tư. Mặt khác, rác đô thị chủ yếu là rác hữu cơ, dễ phân hủy sinh học. Đối với các bãi rác đóng cửa đã lâu có thể đã phân hủy được một lượng rác nhất định, có thể tận dụng lợi thế này để áp dụng phương pháp khác phù hợp và tối ưu hơn về chi phí và lợi ích. 1 Để tìm ra phương pháp xử lý phù hợp với điều kiện trên, cần có nghiên cứu cụ thể về mức độ ô nhiễm tại khu vực các bãi chôn lấp đã đóng cửa trong thời điểm hiện nay.
Tuy nhiên, nếu tiến hành nghiên cứu trên tất cả bãi rác hiện có sẽ mất nhiều thời gian và chi phí. Do đó, tác giả đã chọn khu vực bãi rác Phước Cơ (phần còn lại) để thực hiện nghiên cứu, tìm ra phương án giải quyết đối với bãi rác này. Hy vọng đây sẽ là cơ sở tham khảo cho việc nghiên cứu xử lý các bãi rác cũ tương tự trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau này. Do đó, việc thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm tại khu vực bãi rác Phước Cơ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu” là điều cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu tổng quát Cải thiện và phục hồi chất lượng môi trường tại bãi rác Phước Cơ. Góp phần bảo vệ sức khỏe người dân, môi trường và phục vụ phát triển bền vững tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.2 Mục tiêu cụ thể Xác định độ sâu chôn rác và thành phần, tính chất lượng rác còn lại; Đánh giá chất lượng môi trường và hiện trạng ô nhiễm tại khu vực bãi rác Phước Cơ; Đề xuất phương án xử lý ô nhiễm tại bãi rác Phước Cơ. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Luận văn nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác Phước Cơ để tìm ra phương án xử lý phù hợp với khu vực này. Phạm vi: khu vực Bãi rác Phước Cơ (diện tích còn lại 3,4/5ha), thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, trong giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2022.
Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện 4.1 Cách tiếp cận Đây là nghiên cứu đa ngành, thực hiện tại nhiều khu vực khác nhau nên các cách tiếp cận sử dụng trong nghiên cứu sẽ bao gồm: Cách tiếp cận Hướng đến mục tiêu Kế thừa và chon lọc Tính bức xúc của thông tin, tư liệu công tác QLMT Kết hợp điều tra, đo đạc, phân tích Hình 0.1 Cách tiếp cận của nghiên cứu Cách tiếp cận dựa trên tính kế thừa và chọn lọc các thông tin, tư liệu từ những kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan, các giải pháp các tạo phục hồi môi trường, xử lý ô nhiễm đã áp dụng tại những BCL, giải pháp xử lý ô nhiễm đối với các BCL trên thế giới và Việt Nam; Cách tiếp cận hướng đến mục tiêu: cải thiện và phục hồi môi trường tại khu vực BCL và KDC chịu tác động; Cách tiếp cận dựa trên tính bức xúc của công tác quản lý môi trường: Những tác động gây ô nhiễm môi trường từ BCL, và các bất cập trong công tác quản lý, quy hoạch 3 liên quan đến BCL được sự phản ánh từ người dân, báo chí và truyền thông là dữ liệu thực tế để tiếp cận nghiên cứu; Cách tiếp cận kết hợp điều tra, đo đạc thực tế, thí nghiệm phân tích. Đây là cách tiếp cận tối ưu nhất, sử dụng được thế mạnh của phương pháp này để khắc phục hạn chế của các phương pháp kia. Như vậy với chi phí tài chính và thời gian không lớn ta vẫn có thể đạt được kết quả nghiên cứu với độ tin cậy cao.2 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện dựa trên các phương pháp chủ yếu như khảo sát, đo đạc hiện trường, lấy mẫu phân tích, tổng hợp số liệu (khối lượng, thành phần rác thải, nồng độ các chất ô nhiễm,…) phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng ô nhiễm tại BCL Phước Cơ. Từ đó so sánh với các quy chuẩn môi trường, đánh giá mức độ ô nhiễm theo các tiêu chí pháp luật hiện hành, thu thập ý kiến chuyên làm cơ sở đề xuất giải pháp cải tạo, phục hồi BCL.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng các phần mềm kỹ thuật như GIS (hệ thống thông tin địa lý) tích hợp (ArcGIS, MapInfo.) để đưa các kết quả và cơ sở dữ liệu lên bản đồ để phân tích. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Nghiên cứu có ý nghĩa trên nhiều mặt đối với công tác quản lý nhà nước trong bối cảnh phát triển toàn diện hiện nay, cụ thể: - Về kinh tế: Nếu kết quả nghiên cứu thể hiện mức độ ô nhiễm hiện tại ở bãi chôn lấp Phước Cơ không cao, không cần áp dụng các giải pháp phục hồi môi trường tốn kém như trước. - Về xã hội: Việc nghiên cứu mức độ ô nhiễm tại đây sẽ cho ta cái nhìn tương đối chính xác để đề xuất phương án xử lý, cải thiện, phục hồi môi trường tại khu vực này nói riêng. Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu này, có thể đề xuất các phương án nghiên cứu tương tự để xử lý các bãi chôn lấp khác trên địa bàn tỉnh.
Góp phần chấm dứt các tác động tiêu cực từ bãi chôn lấp đến sức khỏe người dân. 4 - Về môi trường: Kết quả của nghiên cứu góp phần cải tạo, phục hồi môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái khu vực bãi rác. Đồng thời, các hoạt động điều tra, khảo sát sẽ được tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy trình quy định về điều tra và môi trường. 5 TỔNG QUAN Tổng quan về BCL Phước Cơ Thông tin chung BCL Phước Cơ thuộc phường 12, TP.
Vũng Tàu được đưa vào hoạt động từ năm 1995, với diện tích 5,0 ha, để chôn lấp CTRSH cho TP Vũng Tàu, theo quy trình chôn lấp tạm không hợp vệ sinh (không có lớp lót đáy; không có hệ thống thu gom NRR, nước mưa và xử lý khí BCL). Theo Quyết định 64, BCL Phước Cơ nằm trong danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cần phải được xử lý. Chấp hành quyết định trên, TP. Vũng Tàu đã đóng cửa BCL vào tháng 8/2004 [1].
Trong năm 2016, TP Vũng Tàu đã cải tạo, phục hồi môi trường, trồng cây xanh phía trên 1,6 ha/5 ha. Đối với phần diện tích còn lại 3,4 ha trước đây giao cho Công ty TNHH Phước Ân đầu tư Nhà máy xử lý CTR Phước Cơ (8,97 ha), UBND tỉnh đã có văn bản số 6245/UBND-VP ngày 08 tháng 8 năm 2016 chỉ đạo thu hồi dự án, giao TP. Vũng Tàu quản lý, tiếp tục nghiên cứu cải tạo, phục hồi môi trường [1].1 Hình ảnh về vị trí BCL Phước Cơ Theo kết quả phỏng vấn các hộ dân sống quanh BCL thì: Sau khi BCL Phước Cơ đóng cửa, lượng CTR còn lại của BCL hầu hết được người dân đốt và sàn lấy phân để bán; thành phần còn lại sau khi đốt là các chất không phân hủy như: đất, đá, sành, thủy tinh, kim loại… được thải bỏ trở lại trên bề mặt. Do đó, hiện trạng bề mặt phần diện tích còn lại chưa cải tạo của BCL (3,4 ha) chủ yếu là các chất không phân hủy, phía trên là thảm cỏ dại, cao độ địa hình bằng so với khu vực xung quanh (xem Hình 1.
BCL Phước Cơ nằm cách xa KDC, xung quanh chủ yếu là ao nuôi trồng thủy sản quảng canh. Vị trí tiếp giáp như sau: Phía Bắc: Giáp khu đất BCL Phước Cơ đã được phục hồi 1,6ha, cách nhà dân khoảng 100m, cách đường QL 51 khoảng 1km. 7 Phía Tây: Giáp đường đất, cách khu nuôi thủy sản khoảng 12m. Phía Nam: Giáp khu đất trống thuộc Nhà máy xử lý CTR Phước Cơ, cách sông sông Cây Khế 350m.
Phía Đông: Giáp đường đất, cách ao nuôi thủy sản khoảng 12m. Một số thông tin về BCL được thống kê như sau: Thông tin Tên BCL BCL Phước Cơ Vị trí P12, Tp. Vũng Tàu, BR-VT Diện tích 3,4ha Loại hình BCL BCL không hợp vệ sinh Thời gian hoạt động 9 năm (từ năm 1995 - tháng 08/2004) Độ tuổi BCL tính đến năm 2020 25 năm Độ sâu chôn lấp CTR* Dao động 0,2 – 1,2m Bề mặt BCL được phủ lớp đất mỏng và cỏ Lớp phủ bề mặt mọc dày đặc. Thành phần CTR còn lại CTR bao nilong, nhựa, ít xà bần, vỏ ốc.
Khối lượng CTR còn lại* 4.364 tấn Ghi chú: (*) - Số liệu tính toán dựa trên kết quả khảo sát, lấy mẫu phân tích và được trình bày ở Chương 2 báo cáo.2 Hình ảnh về hiện trạng BCL Phước Cơ Điều kiện tự nhiên 1.