Tổng quan nghiên cứu

Chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm trên 70% tổng sản phẩm thu nhập quốc dân trong nhiều giai đoạn phát triển. Tại thành phố Hà Nội, huyện Ba Vì là vùng trọng điểm phát triển đàn bò sữa lớn nhất, chiếm tới 58,8% tổng đàn toàn thành phố với quy mô đạt hơn 8.263 con. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về mật độ vật nuôi cùng mô hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch đồng bộ đã tạo áp lực nặng nề lên hạ tầng tiếp nhận chất thải. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước mặt, đất và không khí do chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý triệt để đang đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe của hơn 265.000 cư dân tại địa phương.

Nhằm giải quyết bài toán cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, công trình nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, công tác quản lý, phân tích chất lượng môi trường và thử nghiệm giải pháp công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi bò sữa tại 2 xã Tản Lĩnh và Vân Hòa thuộc huyện Ba Vì. Đề tài được triển khai thực nghiệm và khảo sát thực địa trong khung thời gian từ tháng 5 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc lượng hóa các hệ số phát thải thực tế, xác định mức độ ô nhiễm của các thông số hóa lý vượt chuẩn kỹ thuật quốc gia, đồng thời hoàn thiện quy trình ủ phân hữu cơ vi sinh compost sử dụng chế phẩm Emuniv. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy, hỗ trợ cơ quan quản lý cắt giảm từ 70% đến 85% tải lượng ô nhiễm hữu cơ và rút ngắn chu kỳ hoai mục chất thải rắn xuống còn 40 ngày, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn nông nghiệp bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết phân giải sinh học kỵ khí và hiếu khí các hợp chất hữu cơ cao phân tử trong chất thải chăn nuôi. Quá trình lên men kỵ khí được mô hình hóa qua cơ chế hoạt động của bể phản ứng kỵ khí dòng chảy ngược qua lớp bùn UASB và hệ thống hầm khí sinh học Biogas. Ở điều kiện yếm khí tối ưu tại nhiệt độ 35 độ C và dải pH từ 6,5 đến 7,5, các chủng vi sinh vật chuyển hóa hợp chất hữu cơ thành khí sinh học chứa khí metan CH4 và cacbonic CO2, giúp loại bỏ từ 79% đến 87% nhu cầu oxy sinh học BOD và giảm tới 99,7% mật độ Coliform.

Song song với đó, lý thuyết ủ phân hữu cơ hiếu khí compost được ứng dụng để chuyển hóa phân bò đặc và chất độn chuồng thành mùn hữu cơ giàu dinh dưỡng. Các khái niệm cốt lõi được định lượng gồm nhu cầu oxy hóa học COD, nhu cầu oxy sinh học BOD5, tổng chất rắn lơ lửng SS, tổng nitơ T-N, tổng phốt pho T-P và mật độ vi sinh vật gây bệnh. Phân bò tươi chứa độ ẩm từ 56% đến 83%, hàm lượng chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm từ 70% đến 80%, cùng tỷ lệ cacbon trên nitơ C/N dao động từ 17,83% C và 0,95% N, tạo môi trường thuận lợi cho các enzyme cellulose, amylase và protease từ vi sinh vật phát triển.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra xã hội học sơ cấp và phân tích thực nghiệm phòng thí nghiệm:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, quy hoạch chăn nuôi của Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì, Phòng Tài nguyên và Môi trường và các công trình khoa học chuyên ngành đã xuất bản.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho các quy mô chăn nuôi nông hộ và gia trại. Cỡ mẫu điều tra khảo sát bao gồm 107 hộ gia đình, trong đó có 59 hộ tại xã Vân Hòa và 48 hộ tại xã Tản Lĩnh. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này nhằm đảm bảo tính bao quát đầy đủ các mức độ chuồng trại từ dưới 5 con đến trên 15 con, phản ánh chính xác tập quán quản lý nước cấp, nước thải và chất thải rắn. Quá trình phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi diễn ra từ ngày 01 tháng 12 năm 2016 đến ngày 30 tháng 05 năm 2017.

Phương pháp quan trắc và phân tích môi trường được thực hiện qua 02 đợt lấy mẫu vào tháng 2 năm 2017 mùa khô và tháng 5 năm 2017 mùa mưa. Các mẫu nước mặt và nước thải chăn nuôi được thu thập, bảo quản và phân tích theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN, đối chiếu trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 08:2015/BTNMT cột B1 về chất lượng nước mặt và QCVN 62-MT:2016/BTNMT về nước thải chăn nuôi.

Phương pháp bố trí thí nghiệm đống ủ compost được thiết lập theo khối hình thang có rãnh thu nước rỉ, chiều cao đống ủ từ 30 đến 50 cm, kiểm soát độ ẩm đạt 50%. Thí nghiệm so sánh 4 công thức phối trộn phân bò với trấu hoặc mùn cưa và chế phẩm sinh học Emuniv chứa các chủng Bacillus subtilis, Lactobacillus plantarum, Streptomyces sp., Saccharomyces cerevisiae mật độ đạt 10 mũ 7 đến 10 mũ 9 CFU/gr nhằm xác định công thức tối ưu về nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ hoai mục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng đàn bò sữa tại hai xã nghiên cứu đạt 568 con, phân bổ chủ yếu tại xã Vân Hòa với 335 con và xã Tản Lĩnh với 251 con. Cơ cấu quy mô chăn nuôi mang tính phân tán cao khi nhóm hộ nuôi dưới 5 con chiếm đa số với tỷ lệ 61,7%, quy mô từ 5 đến 10 con chiếm 28,0%, quy mô từ 10 đến 15 con chiếm 9,3%, và chỉ có 1,0% số hộ đạt quy mô trang trại trên 15 con.

Tổng lượng nước thải phát sinh từ hoạt động tắm rửa gia súc và vệ sinh chuồng trại ước tính khoảng 121,56 m3/ngày đêm. Hệ số phát sinh nước thải tỷ lệ nghịch với quy mô đàn bò: các hộ nuôi dưới 5 con tiêu thụ và xả thải lượng nước lớn nhất lên tới 280 ± 229 lít/con/ngày, trong khi quy mô từ 5 đến 10 con xả 182 ± 88 lít/con/ngày, và quy mô trên 10 con giảm xuống còn 169 ± 83 lít/con/ngày do hiệu quả cơ giới hóa và tối ưu nguồn nước.

Đối với chất thải rắn, 100% các hộ đều thực hiện thu gom phân với tần suất từ 2 đến 4 lần mỗi ngày. Có 84,1% lượng phân thải được tách riêng biệt khỏi thức ăn thừa và rác thải chuồng trại. Hình thức thu gom chủ yếu là hót đổ thủ công chiếm 90,6%, còn lại 9,4% là phương thức đẩy xả trực tiếp vào rãnh thoát.

Kết quả quan trắc chất lượng nước thải và nguồn nước mặt tiếp nhận qua 2 đợt đo đạc cho thấy mức độ ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng vô cùng nghiêm trọng. Nồng độ các chỉ tiêu COD, BOD5, tổng chất rắn lơ lửng SS, amoni, nitrat và coliform tại các kênh mương thoát nước đều vượt nhiều lần giới hạn cho phép của QCVN 08:2015/BTNMT cột B1 và QCVN 62-MT:2016/BTNMT. Hệ thống hầm biogas hiện có tại các cơ sở hoạt động tương đối ổn định nhưng hiệu suất xử lý thực tế chưa đáp ứng yêu cầu xả thải trực tiếp ra môi trường.

Thực nghiệm ủ phân hữu cơ vi sinh chứng minh công thức số 4 phối trộn 200 kg phân bò tươi với 20 kg trấu tỷ lệ 10% kết hợp chế phẩm vi sinh Emuniv hòa tan cho tốc độ tăng nhiệt và hoai mục nhanh nhất. Quá trình ủ diễn ra hoàn toàn sau 40 ngày, nhiệt độ đống ủ đạt đỉnh tiêu diệt sạch vi sinh vật gây hại, tạo ra nguồn phân hữu cơ tơi xốp, không còn mùi hôi thối.

Thảo luận kết quả

Thực trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi tại Tản Lĩnh và Vân Hòa xuất phát từ nhiều nguyên nhân mang tính hệ thống. Việc quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ dưới 5 con chiếm tới 61,7% khiến người dân gặp khó khăn về nguồn vốn đầu tư công trình xử lý đồng bộ. Lượng nước sử dụng lãng phí ở mức 280 lít/con/ngày đã làm loãng nồng độ chất hữu cơ trong dòng thải, gây quá tải thể tích lưu trữ của các công trình kỵ khí sẵn có.

Dữ liệu chất lượng nước có thể được trực quan hóa rõ ràng thông qua bảng so sánh đối chứng giữa nồng độ chất ô nhiễm đầu vào, sau hầm biogas và quy chuẩn quốc gia. Kết quả cho thấy mặc dù các hầm biogas giảm được nồng độ BOD5 và COD đáng kể, nhưng dòng xả cuối cùng vẫn mang hàm lượng dinh dưỡng hòa tan N, P và vi sinh vật Coliform rất cao. Khi so sánh với nghiên cứu của các tác giả tại Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam và các nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi tập trung bằng mô hình kỵ khí UASB, việc thiếu giai đoạn xử lý hiếu khí thứ cấp bằng Aerotank hoặc hồ sinh học sau biogas là nguyên nhân chính khiến nguồn tiếp nhận kênh mương thủy lợi bị phú dưỡng hóa trầm trọng.

Bên cạnh đó, việc áp dụng chế phẩm sinh học Emuniv chứa các vi khuẩn phân giải xenlulozo và nấm men đối kháng đã khẳng định tính ưu việt của giải pháp ủ compost hiếu khí. Biểu đồ diễn biến nhiệt độ đống ủ phản ánh rõ các giai đoạn thích ứng, tăng nhiệt mạnh lên trên 55 độ C giúp ức chế mầm bệnh, và chuyển sang giai đoạn ổn định dưỡng chất. Đây là minh chứng cho thấy tiềm năng to lớn của việc tái chế chất thải rắn thành phân bón hữu cơ sinh học, giảm thiểu tối đa lượng phát thải khí nhà kính CH4 và mùi hôi NH3, H2S ra khu dân cư xung quanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường chăn nuôi bò sữa tại địa bàn nghiên cứu, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:

Thứ nhất, nâng cấp công nghệ và hoàn thiện hệ sinh thái xử lý nước thải chuồng trại. Tiến hành lắp đặt hệ thống tách phân khô tự động kết hợp xây dựng bể lọc sinh học hiếu khí hoặc mương oxy hóa sau hầm Biogas. Mục tiêu hành động nhằm cắt giảm từ 80% đến 85% hàm lượng COD, BOD5 và loại bỏ 98% vi khuẩn đường ruột trước khi xả ra môi trường tiếp nhận. Thời gian triển khai từ năm 2018 đến năm 2020, do các chủ trang trại phối hợp cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì thực hiện.

Thứ hai, chuẩn hóa và chuyển giao rộng rãi quy trình ủ phân compost bằng chế phẩm vi sinh Emuniv. Hướng dẫn các hộ chăn nuôi kỹ thuật phối trộn phân bò với 10% trấu hoặc mùn cưa và chế phẩm sinh học theo tỷ lệ 50 gram chế phẩm trên 200 kg phân tươi, kiểm soát độ ẩm 50% để rút ngắn chu kỳ ủ xuống 40 ngày. Mục tiêu đạt 100% lượng phân bò phát sinh được tái chế thành phân hữu cơ vi sinh thương phẩm phục vụ trồng trọt. Thời gian hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2022 dưới sự hướng dẫn của Trạm Khuyến nông và Hội Nông dân huyện.

Thứ ba, quy hoạch lại không gian chăn nuôi và ban hành định mức tiết kiệm nước rửa chuồng. Khuyến khích di dời các cơ sở chăn nuôi quy mô trên 10 con ra khỏi vùng lõi dân cư đông đúc, quy hoạch thành các cụm gia trại tập trung có hệ thống xử lý chất thải chung. Áp dụng kỹ thuật rửa chuồng bằng vòi xịt áp lực cao nhằm giảm định mức tiêu thụ nước từ 280 lít/con/ngày xuống dưới 150 lít/con/ngày. Đơn vị chủ trì là Ủy ban nhân dân xã Tản Lĩnh và xã Vân Hòa thực hiện định kỳ hàng năm.

Thứ tư, tăng cường chính sách hỗ trợ tín dụng xanh, kiểm tra giám sát và đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng. Tổ chức tối thiểu 10 lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học mỗi năm, kết hợp kiểm tra việc tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường theo Luật Bảo vệ Môi trường và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì chỉ đạo các phòng ban chuyên môn bố trí nguồn vốn vay ưu đãi để hỗ trợ các hộ xây dựng công trình xử lý chất thải đạt chuẩn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, là tài liệu tham khảo đắc lực cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm cán bộ quản lý nhà nước về môi trường và nông nghiệp: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực tế, hệ số phát thải và căn cứ khoa học vững chắc để các cơ quan chuyên trách tại địa phương xây dựng quy hoạch chăn nuôi bền vững và ban hành chính sách quản lý môi trường phù hợp.

Nhóm sinh viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Đất đai, Chăn nuôi Thú y: Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp kết hợp giữa điều tra xã hội học định lượng, quan trắc phân tích hóa lý nước thải và bố trí thí nghiệm thực nghiệm vi sinh vật học ứng dụng.

Nhóm chủ trang trại và hộ nông dân chăn nuôi bò sữa: Tài liệu cung cấp cẩm nang hướng dẫn chi tiết từng bước quy trình kỹ thuật ủ phân compost với trấu và chế phẩm vi sinh, giúp tiết kiệm chi phí mua phân bón, giảm tiêu hao nước vệ sinh và bảo vệ sức khỏe gia đình.

Nhóm doanh nghiệp sản xuất phân bón hữu cơ và đơn vị cung cấp giải pháp xử lý môi trường: Tiếp cận công thức phối trộn nguyên liệu tối ưu và thông số vận hành các công trình xử lý yếm khí, mở ra cơ hội thương mại hóa các dòng sản phẩm vi sinh xử lý mùi và liên kết chuỗi giá trị phân bón hữu cơ tuần hoàn.

Câu hỏi thường gặp

Lượng nước thải phát sinh trong chăn nuôi bò sữa tại nông hộ xã Tản Lĩnh và Vân Hòa là bao nhiêu? Theo kết quả điều tra, tổng lượng nước thải vệ sinh chuồng trại phát sinh khoảng 121,56 m3/ngày đêm. Quy mô nuôi dưới 5 con sử dụng mức nước cao nhất khoảng 280 ± 229 lít/con/ngày, trong khi quy mô trên 10 con chỉ tiêu thụ 169 ± 83 lít/con/ngày do ý thức và phương thức dọn rửa hiệu quả hơn.

Hầm Biogas truyền thống có xử lý triệt để được nước thải chăn nuôi bò sữa hay không? Hầm Biogas thông thường chỉ xử lý hiệu quả pha rắn và giảm từ 70% đến 87% tải lượng hữu cơ BOD, COD nhưng nước thải sau hầm ủ vẫn có nồng độ chất dinh dưỡng N, P và vi sinh vật vượt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT, bắt buộc phải có thêm công trình xử lý thứ cấp như hồ sinh học hoặc bãi lọc ngầm.

Công thức ủ phân compost từ phân bò nào cho hiệu quả hoai mục nhanh nhất trong nghiên cứu? Công thức tối ưu nhất là công thức số 4 gồm 200 kg phân bò tươi phối trộn cùng 20 kg trấu tỷ lệ 10% và 50 gram chế phẩm sinh học Emuniv pha loãng. Công thức này giúp đống ủ đạt nhiệt độ tiêu diệt mầm bệnh nhanh chóng và hoàn thành hoai mục hoàn toàn chỉ sau 40 ngày.

Chế phẩm vi sinh Emuniv đóng vai trò gì trong quá trình xử lý chất thải chăn nuôi? Chế phẩm Emuniv chứa tổ hợp các chủng vi sinh vật hữu hiệu mật độ 10 mũ 7 đến 10 mũ 9 CFU/gr gồm Bacillus subtilis, Lactobacillus, nấm men và xạ khuẩn. Chúng tiết enzyme phân giải nhanh cellulose, tinh bột, khử triệt để mùi hôi chuồng trại và sinh kháng sinh tự nhiên ức chế vi khuẩn gây bệnh.

Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia nào được áp dụng để đánh giá chất lượng môi trường trong đề tài? Nghiên cứu áp dụng quy chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT cột B1 để đối chiếu chất lượng nguồn nước mặt kênh mương, QCVN 62-MT:2016/BTNMT để kiểm soát nước thải chăn nuôi, cùng các tiêu chuẩn lấy mẫu và đánh giá điều kiện vệ sinh thú y QCVN 01-79:2011/BNNPTNT.

Kết luận

Một là, nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết hiện trạng phát sinh chất thải của tổng đàn 568 con bò sữa tại 2 xã Tản Lĩnh và Vân Hòa, xác định lượng nước thải vệ sinh trung bình 121,56 m3/ngày và tỷ lệ phân tán chăn nuôi quy mô nông hộ chiếm trên 61,7%.

Hai là, công tác quan trắc đã chỉ rõ chất lượng nước thải và nguồn nước mặt tiếp nhận đều bị ô nhiễm hữu cơ và phú dưỡng nghiêm trọng, vượt các ngưỡng giới hạn an toàn quy định tại QCVN 08:2015/BTNMT và QCVN 62-MT:2016/BTNMT.

Ba là, đề tài thử nghiệm thành công công nghệ ủ phân hữu cơ vi sinh compost kết hợp trấu 10% và chế phẩm Emuniv, rút ngắn thời gian hoai mục xuống còn 40 ngày và loại trừ triệt để nguy cơ lan truyền dịch bệnh.

Bốn là, hệ thống 4 nhóm giải pháp công nghệ, kỹ thuật, quy hoạch không gian và chính sách kinh tế xanh được xây dựng bài bản, định hướng lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2018 đến năm 2025 cho toàn huyện Ba Vì.

Năm là, công trình đóng góp bộ tư liệu thực chứng quý giá, mở ra hướng đi bền vững kết hợp giữa phát triển kinh tế chăn nuôi bò sữa và bảo vệ môi trường sinh thái nông thôn vùng bán sơn địa.

Hãy áp dụng ngay các quy trình kỹ thuật và khuyến nghị khoa học từ công trình nghiên cứu này vào thực tiễn quản lý chuồng trại để xây dựng mô hình nông nghiệp xanh, tuần hoàn và nâng cao giá trị kinh tế bền vững cho cộng đồng chăn nuôi bò sữa!