Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi tại Việt Nam có bước phát triển ổn định, từng bước dịch chuyển nhanh chóng từ chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại tập trung quy mô công nghiệp. Cả nước có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình và 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung. Mặc dù chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp và góp phần đảm bảo an ninh thực phẩm, công tác quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi vẫn còn nhiều bất cập. Theo số liệu tác giả trích dẫn, cả nước mới chỉ có khoảng 70% hộ chăn nuôi xây dựng chuồng trại, trong đó chỉ 10% chuồng trại đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh; tỷ lệ hộ có công trình khí sinh học (hầm biogas) chỉ đạt 8,7%; khoảng 23% số hộ hoàn toàn không xử lý chất thải vật nuôi; và tỷ lệ hộ có cam kết bảo vệ môi trường chỉ chiếm 0,6%. Đối với các trang trại tập trung, phần lớn hệ thống xử lý chất thải hiện có vẫn chưa đạt hiệu quả triệt để, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí tại khu vực nông thôn (ước tính có tới 80% các bệnh nhiễm trùng nông thôn liên quan đến nguồn nước nhiễm giun sán, tả, bệnh ngoài da và mắt). Bên cạnh đó, hệ thống quản lý nhà nước về môi trường chăn nuôi còn thiếu đồng bộ và nhận thức của các cơ sở chăn nuôi còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài được thực hiện nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng và tìm kiếm giải pháp cải thiện môi trường tại một cơ sở chăn nuôi cụ thể.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 4 nội dung:
- Đánh giá được hiện trạng quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn đang áp dụng tại trang trại.
- Đánh giá được chất lượng nước thải và hiệu quả xử lý chất thải, nước thải tại trang trại chăn nuôi lợn Tuấn Hà.
- Đánh giá được ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe con người.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý và xử lý chất thải tại trang trại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải chăn nuôi tại trang trại; công tác quản lý chất thải tại trang trại; quy trình công nghệ xử lý chất thải tại trang trại.
- Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn Tuấn Hà, thôn Mai Thưởng, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập số liệu và quan trắc thực địa từ ngày 13/06/2016 đến ngày 13/11/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành của Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu:
- Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13; Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Thông tư 07/2007/TT-BTNMT; Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT; Quyết định 22/2006/QĐ-BTNMT; Quyết định 1506/QĐ-BNN-KHCN về quy trình thực hành chăn nuôi tốt; QCVN 01:2011/BNNPTNT về điều kiện vệ sinh thú y.
- Tiêu chuẩn so sánh nước thải: QCVN 62-MT:2016/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải chăn nuôi (áp dụng giá trị giới hạn tại Cột B).
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:
- Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Yên Sơn; số liệu quy mô sản xuất, cơ sở hạ tầng của trang trại Tuấn Hà; các số liệu thống kê phát triển đàn lợn từ Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO).
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế cơ sở hạ tầng, quy trình vận hành; cân định lượng chất thải rắn phát sinh tại nguồn bằng cân kỹ thuật; phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại, 1 kỹ sư và 1 cán bộ quản lý trang trại; phát phiếu điều tra phỏng vấn 30 công nhân và sinh viên thực tập tại trại về điều kiện làm việc, mức độ ảnh hưởng của mùi hôi, tiếng ồn và các bệnh thường gặp.
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm: Lấy mẫu nước thải 3 đợt trong điều kiện thời tiết khô ráo tại 2 vị trí gồm cống xả trước khi vào bể biogas (ký hiệu M1) và tại ao lắng sau khi qua xử lý biogas (ký hiệu M2). Quy trình lấy mẫu, bảo quản và phân tích tuân thủ theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) tại phòng thí nghiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên:
- Lấy mẫu nước thải: TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992);
- Đo pH, nhiệt độ, DO: Đo trực tiếp bằng máy đo đa chỉ tiêu theo TCVN 6492:2011;
- Nhu cầu oxy hóa học (COD): Phương pháp chuẩn độ bằng KMnO4 theo TCVN 4565:1988;
- Nhu cầu oxy sinh học (BOD5): Phương pháp pha loãng theo TCVN 6001:2008 (ISO 5815-1:2003);
- Tổng Photpho (PTổng): Phương pháp so màu amoni molipdat theo TCVN 6202:2008 (ISO 6878:2004);
- Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Phương pháp khối lượng sấy khô theo TCVN 6625:2000.
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tải lượng và so sánh đối chiếu bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày bối cảnh chuyển dịch phương thức chăn nuôi gia súc sang hình thức công nghiệp tập trung, đi đôi với sự gia tăng áp lực ô nhiễm môi trường nông thôn do các trang trại chưa đầu tư hệ thống xử lý hoàn chỉnh. Phần này xác định 4 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp bức tranh thực trạng quản lý chất thải tại cơ sở chăn nuôi lợn quy mô trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các khái niệm chuyên ngành môi trường nước, chất thải chăn nuôi, tải lượng ô nhiễm, cùng các quy định pháp lý liên quan. Đồng thời, tác giả tổng hợp tình hình phát triển chăn nuôi lợn:
- Trên thế giới: Theo FAO (2014), Trung Quốc dẫn đầu thế giới với đàn lợn 474,4 triệu con; Mỹ đứng thứ hai với hơn 67 triệu con; Brazil đứng thứ ba với 37 triệu con; Việt Nam đứng thứ 5 với trên 26 triệu con.
- Tại Việt Nam: Theo Cục Chăn nuôi, tính đến ngày 01/10/2016, tổng đàn lợn cả nước đạt 29,1 triệu con (tăng 4,8% so với năm 2015). Đàn lợn nái đạt 4,23 triệu con (chiếm 14,5% tổng đàn). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2016 đạt 3,66 triệu tấn. Mục tiêu quy hoạch đến năm 2020 đạt tổng đàn 28,7 triệu con, thịt hơi các loại đạt 6,4 triệu tấn.
- Các công nghệ xử lý: Tác giả phân tích các giải pháp xử lý cơ học (song chắn rác, lắng, lọc), hóa lý (keo tụ bằng phèn nhôm, phèn sắt, polymer trợ keo tụ), và xử lý sinh học tự nhiên (hồ sinh học, bãi lọc ngầm) cũng như nhân tạo (bể Aeroten, SBR, bể UASB, hầm biogas).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương trình bày chi tiết về địa bàn thực nghiệm tại xã Yên Sơn, huyện Lục Nam; xác định 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm; mô tả kỹ thuật tính toán định mức chất thải phát sinh và quy trình lấy mẫu nước thải theo tiêu chuẩn TCVN 5999:1995 tại 2 vị trí quan trắc (M1: nước thải trước biogas; M2: nước thải sau biogas tại ao lắng). Các chỉ tiêu phân tích gồm: pH, DO, nhiệt độ, COD, BOD5, PTổng và TSS.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 cung cấp toàn bộ các số liệu khảo sát, tính toán và phân tích trong 5 tháng thực nghiệm:
- Tổng quan cơ sở: Trang trại Tuấn Hà được thành lập năm 2013 với vốn đầu tư 12 tỷ đồng, diện tích 30.000 m2 (khu chuồng nuôi 20.000 m2, khu xử lý chất thải 3.000 m2). Nhân sự gồm 1 kỹ sư, 1 quản lý, 10 công nhân và 15 sinh viên thực tập. Cơ cấu đàn gồm 660 lợn nái (giống Landrace và Yorkshire) và 10 lợn đực (giống Duroc), sản xuất giống lợn con cung cấp cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam với sản lượng xuất chuồng đạt 1.350 con/tháng năm 2016.
- Tính toán lượng chất thải phát sinh:
- Nước thải: Tổng lượng nước thải phát sinh hàng ngày là 26,8 m3/ngày (nước sinh hoạt và pha chế: 4 m3/ngày; nước tiểu: 2,52 m3/ngày; nước tắm lợn: 10,05 m3/ngày; nước rửa chuồng: 10 m3/ngày).
- Phân lợn: Trang trại sử dụng khoảng 1.960 kg thức ăn hỗn hợp/ngày; với hệ số phát sinh 0,43 kg phân/1 kg thức ăn, lượng phân thải trung bình là 843 kg/ngày.
- Xác động vật chết: Thống kê từ tháng 7 đến tháng 11/2016 cho thấy số lượng lợn con chết trung bình là 70 con/tháng.
- Rác thải chăn nuôi: Tổng khối lượng rác thải rắn phát sinh là 6,26 kg/ngày (bao bì thức ăn: 4 kg, chiếm 64%; bao bì thuốc thú y: 1 kg, chiếm 16%; dụng cụ thú y: 0,2 kg, chiếm 3,2%; dụng cụ đỡ đẻ: 0,05 kg, chiếm 0,8%; các chất khác: 1 kg, chiếm 16%).
- Hiện trạng quản lý và công nghệ xử lý:
- Nước thải dẫn vào bể biogas thể tích 300 m3, sau đó chảy qua một ao lắng hở rồi xả thẳng ra sông Lục Nam. Nước tại ao lắng vẫn có màu vàng chè và bốc mùi hôi thối.
- Phân rắn được thu gom đóng bao bán cho các hộ trồng trọt hoặc nuôi cá, vỏ bao tải tái sử dụng nhiều lần không qua khử trùng.
- Xác lợn chết được thu gom vào xô có nắp đậy, cuối ngày đem nấu cho cá ăn hoặc đổ vào hố đất tự phân hủy có che bạt tạm bợ, dịch phân hủy ngấm trực tiếp xuống đất.
- Vỏ bao thức ăn được bán phế liệu, vỏ thuốc thú y trả lại nhà cung ứng CP Việt Nam.
- Hiệu quả xử lý nước thải qua 3 đợt quan trắc: Các chỉ tiêu COD, BOD5 và TSS sau khi qua bể biogas đều giảm đáng kể so với nước thải thô nhưng vẫn vượt ngưỡng quy định tại QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B).
- Đánh giá sức khỏe và đề xuất giải pháp: Khảo sát ảnh hưởng môi trường chuồng trại tới công nhân và sinh viên; đề xuất 3 giải pháp cải thiện gồm: bổ sung chế phẩm vi sinh hữu hiệu EM, xây dựng hồ sinh học trồng cây thủy sinh và áp dụng công nghệ AO kết hợp khử trùng.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các phát hiện chính về tải lượng chất thải và sự quá tải của hệ thống xử lý biogas tại trang trại Tuấn Hà. Đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương trong việc tăng cường kiểm tra giám sát môi trường và kiến nghị trang trại hoàn thiện các công trình xử lý sau biogas trước khi xả ra sông.
Kết quả và đóng góp
Số liệu kết quả phân tích chất lượng nước thải
Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả phân tích nước thải tại trang trại chăn nuôi Tuấn Hà qua 3 lần lấy mẫu (vị trí M1: cống thải trước biogas; M2: ao lắng sau biogas) đối chiếu với QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B):
| Đợt |
Vị trí |
pH |
DO (mg/l) |
Nhiệt độ (°C) |
COD (mg/l) |
BOD5 (mg/l) |
PTổng (mg/l) |
TSS (mg/l) |
| Lần 1 |
M1 (Trước) |
7,00 |
2,80 |
26,19 |
829,2 |
721,4 |
5,54 |
720,0 |
|
M2 (Sau) |
6,90 |
3,80 |
26,27 |
460,8 |
228,6 |
6,92 |
160,0 |
| Lần 2 |
M1 (Trước) |
6,98 |
3,10 |
28,50 |
772,1 |
641,9 |
7,92 |
750,0 |
|
M2 (Sau) |
6,72 |
3,76 |
28,60 |
453,6 |
212,8 |
4,12 |
180,0 |
| Lần 3 |
M1 (Trước) |
6,85 |
2,90 |
27,50 |
815,2 |
712,2 |
3,70 |
740,0 |
|
M2 (Sau) |
6,33 |
3,55 |
27,70 |
454,4 |
203,5 |
4,90 |
160,0 |
| QCVN 62 |
Cột B |
5,5 – 9 |
— |
— |
300,0 |
100,0 |
— |
150,0 |
Hiệu quả xử lý của bể biogas 300 m3 đối với các thông số ô nhiễm chính:
- COD: Qua 3 đợt, hàm lượng COD sau xử lý giảm từ 1,59 đến 1,8 lần so với trước xử lý, tuy nhiên nồng độ nước sau xử lý (453,6 - 460,8 mg/l) vẫn vượt quy chuẩn cho phép từ 1,50 đến 1,51 lần.
- BOD5: Hàm lượng BOD5 sau xử lý giảm từ 3,0 đến 3,5 lần, nhưng giá trị đầu ra (203,5 - 228,6 mg/l) vẫn vượt quy chuẩn Cột B từ 2,04 đến 2,3 lần.
- TSS: Tổng chất rắn lơ lửng giảm từ 4,2 đến 4,6 lần, song nồng độ nước đầu ra (160 - 180 mg/l) vẫn vượt tiêu chuẩn xả thải từ 1,06 đến 1,2 lần.
- pH: Nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn (6,33 - 6,90 sau xử lý).
Các giải pháp kỹ thuật do tác giả đề xuất
- Ứng dụng chế phẩm sinh học EM (Effective Microorganisms): Phun chế phẩm EM định kỳ tại các dãy chuồng nuôi và hố tập kết chất thải rắn nhằm ức chế hoạt động của vi khuẩn gây thối, giảm thiểu phát tán mùi hôi (NH3, H2S) và thúc đẩy phân giải nhanh các hợp chất hữu cơ khó tiêu.
- Xây dựng bãi lọc thực vật thủy sinh: Cải tạo ao lắng sinh học sau hầm biogas, thả các loài thực vật thủy sinh có khả năng hấp thụ nitơ, photpho và kim loại nặng (như bèo lục bình, lau sậy) để xử lý bậc ba trước khi xả ra sông.
- Quy trình công nghệ AO (Anoxic - Oxic) kết hợp khử trùng: Đề xuất bổ sung cụm bể thiếu khí (Anoxic) để khử nitrat thành khí nitơ và bể hiếu khí (Oxic) với bùn hoạt tính để triệt tiêu COD, BOD5 còn dư sau bể biogas, sau đó cho qua bể lắng và khử trùng bằng hóa chất (clorin) để diệt sạch vi sinh vật gây bệnh trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã định lượng hóa cụ thể dòng phát thải (lưu lượng nước thải, khối lượng phân, xác lợn chết và rác thải nguy hại) tại một trang trại chăn nuôi lợn nái quy mô công nghiệp điển hình ở Bắc Giang. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng chứng minh hầm biogas đơn thuần chỉ đóng vai trò xử lý sơ bộ, không đủ khả năng đưa nước thải chăn nuôi đạt QCVN 62-MT:2016/BTNMT nếu không có các công trình xử lý bổ sung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát giới hạn tại một cơ sở chăn nuôi (trang trại Tuấn Hà) trong khoảng thời gian 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11/2016), chưa phản ánh được biến động tải lượng ô nhiễm giữa các mùa khí hậu khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa đông lạnh).
- Các thông số quan trắc nước thải mới chỉ tập trung vào một số chỉ tiêu hóa lý cơ bản (pH, DO, nhiệt độ, COD, BOD5, PTổng, TSS), chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật chỉ thị (Tổng Coliform, E.coli) và khí thải phát tán (mùi, NH3, H2S).
- Các giải pháp kỹ thuật đề xuất (chế phẩm EM, hồ thủy sinh, quy trình công nghệ AO kết hợp khử trùng) mới dừng lại ở mức độ định hướng lý thuyết, chưa được triển khai thử nghiệm thực tế tại trang trại để đánh giá hiệu quả kinh tế - kỹ thuật.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai mô hình thử nghiệm pilot xử lý nước thải sau biogas bằng công nghệ AO hoặc bãi lọc ngầm trồng cây thủy sinh trực tiếp tại trang trại Tuấn Hà để đo đạc hiệu suất loại bỏ chất ô nhiễm thực tế.
- Mở rộng quan trắc chỉ tiêu vi sinh vật và nồng độ các loại khí độc phát sinh trong chuồng trại chăn nuôi công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Chăn nuôi - Thú y tham khảo phương pháp luận khảo sát thực địa, tính toán định mức phát sinh chất thải và quy trình đánh giá tác động môi trường trong nông nghiệp.
- Các chủ trang trại, kỹ sư vận hành hệ thống chăn nuôi heo quy mô tập trung trong việc tham khảo định mức xả thải thực tế (26,8 m3 nước thải/ngày và 843 kg phân/ngày đối với trại quy mô hơn 600 lợn nái) để thiết kế công trình thu gom tương ứng.
- Các cán bộ quản lý môi trường cấp huyện, xã làm cơ sở giám sát việc tuân thủ quy chuẩn xả thải QCVN 62-MT:2016/BTNMT tại các trang trại chăn nuôi gia súc trên địa bàn.
- Phần đáng tham khảo nhất là chuỗi số liệu đối chứng nước thải vào - ra của bể biogas 300 m3 qua 3 đợt phân tích độc lập và phương pháp tính toán lượng nước thải chi tiết theo từng nguồn phát sinh.
Câu hỏi thường gặp
1. Trang trại chăn nuôi lợn Tuấn Hà có quy mô cơ sở hạ tầng, đàn lợn và nguồn nhân lực như thế nào?
Trang trại được thành lập năm 2013 với tổng vốn đầu tư 12 tỷ đồng, xây dựng trên diện tích 30.000 m2 (trong đó chuồng nuôi chiếm 20.000 m2, khu xử lý chất thải chiếm 3.000 m2). Trang trại nuôi 660 lợn nái (giống Landrace và Yorkshire) cùng 10 lợn đực (giống Duroc) để nhân giống cung cấp cho Công ty CP Việt Nam, sản lượng xuất chuồng đạt 1.350 lợn con/tháng năm 2016. Nhân lực tại trại gồm 1 kỹ sư chính, 1 quản lý, 10 công nhân phụ trách và 15 sinh viên thực tập.
2. Tổng lượng nước thải phát sinh hàng ngày tại trang trại Tuấn Hà được tính toán là bao nhiêu và gồm những nguồn nào?
Tổng lưu lượng nước thải phát sinh hàng ngày của trang trại là 26,8 m3/ngày. Lượng nước này được tính toán cộng dồn từ 4 nguồn chính:
- Nước sinh hoạt của 30 công nhân, sinh viên và nước pha chế thuốc, khử trùng: 4 m3/ngày;
- Nước tiểu của đàn lợn (gồm 660 lợn nái, 10 lợn đực và lợn con): 2,52 m3/ngày;
- Nước tắm cho lợn (định mức 15 lít/con/ngày cho 670 con): 10,05 m3/ngày;
- Nước rửa vệ sinh chuồng trại: 10 m3/ngày.
3. Khối lượng chất thải rắn (phân, xác lợn chết, rác thải) phát sinh tại trang trại là bao nhiêu?
- Phân lợn: Phát sinh khoảng 843 kg/ngày (tính từ lượng tiêu thụ 1.960 kg thức ăn hỗn hợp/ngày theo hệ số 0,43 kg phân/kg thức ăn).
- Xác lợn con chết: Trung bình 70 con/tháng (thống kê biến động từ 66 đến 72 con/tháng từ tháng 7 đến tháng 11/2016).
- Rác thải chăn nuôi: Phát sinh 6,26 kg/ngày, trong đó bao bì thức ăn chiếm 4 kg (64%), vỏ bao bì thuốc thú y chiếm 1 kg (16%), dụng cụ thú y 0,2 kg (3,2%), dụng cụ đỡ đẻ 0,05 kg (0,8%) và rác thải khác 1 kg (16%).
4. Hiệu quả xử lý chất lượng nước thải của bể Biogas 300 m3 tại trang trại Tuấn Hà có đạt quy chuẩn không?
Nước thải sau khi qua bể biogas 300 m3 không đạt yêu cầu xả thải theo QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B). Mặc dù các chất ô nhiễm hữu cơ đã giảm đáng kể so với trước xử lý, nhưng qua cả 3 lần phân tích độc lập:
- COD sau xử lý đạt từ 453,6 đến 460,8 mg/l, vượt quy chuẩn từ 1,50 đến 1,51 lần;
- BOD5 sau xử lý đạt từ 203,5 đến 228,6 mg/l, vượt quy chuẩn từ 2,04 đến 2,3 lần;
- TSS sau xử lý đạt từ 160 đến 180 mg/l, vượt quy chuẩn từ 1,06 đến 1,2 lần;
- Chỉ có chỉ tiêu pH (6,33 - 6,90) nằm trong giới hạn cho phép (5,5 - 9).
5. Thực trạng xử lý xác lợn chết và phân chuồng tại trang trại Tuấn Hà tồn tại những vấn đề gì?
Xác lợn con chết (trung bình 70 con/tháng) hiện được thu gom vào xô đậy nắp, sau đó đem đun nấu làm thức ăn nuôi cá hoặc đổ vào hố đất tự phân hủy có phủ bạt tạm bợ. Nước rỉ từ quá trình phân hủy xác ngấm trực tiếp xuống đất, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và phát tán dịch bệnh. Đối với phân chuồng, cơ sở thu gom đóng vào các bao tải tái sử dụng không qua tiêu độc khử trùng rồi bán thô ra ngoài làm phân bón, khu chứa phân chỉ cách chuồng nuôi 20 mét gây mùi hôi thối cục bộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Dương Thị Hậu đã hoàn thành việc khảo sát, tính toán tải lượng chất thải và đánh giá thực trạng hệ thống xử lý chất thải tại Trang trại chăn nuôi lợn Tuấn Hà, xã Yên Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm khẳng định hầm biogas thể tích 300 m3 chỉ đóng vai trò phân hủy kỵ khí sơ bộ, nước thải đầu ra vẫn có các chỉ tiêu COD, BOD5 và TSS vượt từ 1,06 đến 2,3 lần so với QCVN 62-MT:2016/BTNMT (Cột B). Trên cơ sở thực trạng ô nhiễm và rủi ro từ việc chôn lấp xác động vật thủ công, tác giả đã đề xuất các giải pháp kỹ thuật bổ trợ gồm ứng dụng chế phẩm vi sinh EM, cải tạo ao thủy sinh và thiết kế công nghệ AO kết hợp khử trùng để hoàn thiện công tác bảo vệ môi trường tại trang trại.