TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. RƠM RẠ, THÀNH PHẦN CẤU TẠO VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ 1. Rơm rạ Theo thống kê của Tổ chức Nông Lƣơng của Liên Hợp Quốc (FAO- Food and Agriculture Organization) [1], sản xuất lúa gạo trên thế giới chạm mức kỷ lục 759,6 triệu tấn lúa (503,9 triệu tấn gạo) trong năm 2017 và năm 2018 tiếp tục tăng sản lƣợng thêm 10,3 triệu tấn lên mức cao mới 769,9 triệu tấn lúa (510,6 triệu tấn gạo). Dự báo sản lƣợng sẽ tăng trƣởng 1,4% trong năm 2019, khu vực sản xuất lúa gạo tập trung ở Châu Á là chính, trong đó 2 vùng sản xuất lớn là Nam Á và Đông Nam Á với mức tăng sản lƣợng tuyệt đối lớn nhất đƣợc dự đoán sẽ là Ấn Độ, sản xuất tăng đáng kể ở các nƣớc nhƣ Bangladesh, Sri Lanka, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal, Philippines và Thái Lan, Việt Nam xem bảng 1.
Tƣơng ứng với việc tăng trƣởng sản xuất lúa gạo hàng năm thì sản lƣợng rơm rạ đƣợc thải ra ngoài đồng ruộng trên toàn cầu cực kỳ lớn, nhƣng tới nay chƣa có thống kê chính xác về lƣợng rơm rạ thải ra sau thu hoạch lúa, vì tùy thuộc vào văn hóa bản địa, loại giống lúa trồng trọt, vùng canh tác và điều kiện thổ nhƣỡng. Nhƣng tổng thể ƣớc lƣợng trung bình sản xuất ra 1 tấn gạo thì sẽ thải ra khoảng 1,5 tấn rơm rạ. Thống kê sản lƣợng gạo sản xuất trên Thế giới. Khu vực/Quốc gia Số lƣợng gạo Khu vực/Quốc gia Số lƣợng gạo (triệu tấn) (triệu tấn) Thế giới 758.8 Việt Nam 44 Guinea 2.9 Sri Lanka 3 Việt Nam đã trở thành một trong những nƣớc xuất khẩu gạo đứng đầu trên thế giới hiện nay, tốc dộ tăng trƣởng sản xuất lúa gạo từ những năm 2012 đạt sản lƣợng 43,7 triệu tấn lúa.
Đến năm 2018, sản lƣơng tăng lên khoảng 55 triệu tấn, xuất khẩu gạo đạt 6,1 triệu tấn, nâng giá trị 3,06 tỷ USD. Theo dữ liệu thống kê những năm gần đây của Bộ Nông nghiệp Phát Triển Nông thôn Việt Nam, vụ mùa 2015/16 đạt 44,13 triệu tấn lúa, vụ mùa 2016/17 đạt 44,52 triệu tấn và vụ mùa 2017/18 đạt đƣợc 44,96 triệu tấn. Dự kiến năm 2019 diện tích trồng lúa trên cả nƣớc là 7,53 triệu ha, sản lƣợng gạo dự kiến tƣơng đƣơng năm 2018. Bên cạnh đó thống kê của tổ chức GAIN (Global Agriculture Information Network) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ về diện tích gieo trồng, năng suất và sản lƣợng gạo Viêt Nam từ năm 1993 đến 2017 tăng trƣởng liên tục cả về diện tích và năng suất xem hình 1.
Những nỗ lực đem lại lợi ích từ sản xuất lúa gạo ngày càng gia tăng và tăng thu nhập cho nông dân, nhƣng song song với đó là lƣợng rơm rạ thải ra hàng năm ở nƣớc ta trung bình khoảng 55 triệu tấn. Đây cũng là một thách thức cho việc xử lý giảm thiểu ô nhiễm rơm, bên cạnh đó tận dụng nguồn tài nguyên phế phụ phẩm nông nghiệp ở nƣớc ta. Trong 55 triệu tấn Rơm thải ra hàng năm có khoảng 20% đƣợc sử dụng cho gia sức gia cầm, trồng nấm rơm, phân ủ, còn lại là đốt hoặc bỏ lại trên đồng ruộng gây ô nhiễm môi trƣờng đồng ruộng và lãng phí nguồn tài nguyên tái sinh dồi dào. Diện tích gieo trồng, năng suất và sản lƣợng gạo Việt Nam Vấn đề đặt ra làm nhƣ thế nào và làm sao để tận dụng nguồn tài nguyên tái tạo và dồi dào nhƣ rơm rạ.
Để đạt hiệu quả cao thì trƣớc tiên sẽ phân tích phân tích về thành phần cấu tạo và dinh dƣỡng trong rơm. Thành phần cấu tạo Rơm Thành phần cellulose, lignocellulose và lignin là nguồn sinh khối chính của tế bào thực vật nói chung và rơm rạ nói riêng. Rơm là nguồn nguyên liệu đƣợc tái sinh trong tự nhiên, các thành phần cấu tạo rơm có sự thay đổi dựa vào sự phát triển trong các chủng loại lúa, điều kiện thổ nhƣỡng canh tác khác nhau, các yếu tố môi trƣờng khắc nghiệt, côn trùng và mầm bệnh. Thành phần hóa học của rơm tính theo khối lƣợng khô gồm cellulose 60%, lignin 14%, đạm hữu cơ (protein) 3%, chất béo (lipid) 2%.
Nếu tính theo nguyên tố thì cacbon (C) chiếm 44%, hydro (H) 5%, oxygen (O) 49%, nitơ (N) khoảng 0,92%, một lƣợng rất nhỏ photpho (P), lƣu huỳnh (S) và kali (K). Theo kết quả phân tích thành phần đƣờng cơ bản chính trong rơm bao 4 gồm hexose (glucose, galactose, mannose), pentose (xyloza, arabinose), lignin (cả axit hòa tan và không hòa tan), tro, silica. Ngoài ra còn có các thành phần phi cấu trúc chủ yếu bao gồm protein (khoảng 3%) và pectin (khoảng 2,8%) cùng với một lƣợng nhỏ đƣờng tự do, diệp lục, chất béo, dầu và sáp đƣợc nêu trong bảng Bảng 1. Thành phần cấu tạo chung của rơm rạ.
Thành phần Hàm lƣợng (w/w%) Glucose 34.4 Acid soluble lignin 2.0 Acid insoluble lignin 13.7 Ash and silica 7.3 other nonstructural components) Bảng 1. Thành phần hóa học chính của Rơm. Thành phần Đơn vị tính Hàm lƣợng Carbon wt% 47.00 Thành phần hóa học Nguyên tố halogen Chlorine (Cl) mg/kg 1,109.4 Bromine (Br) mg/kg 0.0 Fluorine (F) mg/kg 0.0 Nguyên tố chính Aluminium (Al) mg/kg (dry) 143.6 Nguyên tố phụ Cadmium (Cd) mg/kg (dry) 0.5 Nguyên tố khác Strontium (Sr) mg/kg (dry) 26.0 Những kết quả đã phân tích cho thấy rằng thành phần chất xơ trong rơm rạ chủ yếu là cellulose, hemicellulose và lignin. Cellulose gồm nhiều chuỗi thẳng ghép nhau thành bó dài nhờ mạch nối hydrogen tạo cấu tạo dạng sợi, có cấu trúc phân tử là một polymer mạch thẳng, mỗi đơn vị là một disaccharide gọi là cellobiose, có cấu tạo từ hai phân tử D-glucose.
Các đơn vị D-glucose liên kết với nhau bằng liên kết β-1,4 và đƣợc giữ chặt bởi liên kết hydro liên chuỗi và liên chuỗi mạnh để tạo thành các vi sợi. Chúng cung cấp độ bền cơ học cho thành tế bào thực vật và có thể dài vài µm trong rơm và đƣờng kính khoảng 12-35nm [6, 7]. Các công bố cho thấy mức độ trùng hợp D-glucose của rơm rạ cao hơn một chút so với dƣ lƣợng nông nghiệp khác nhƣ rơm lúa mì và bã mía nhƣng nó thấp hơn đáng kể so với gỗ cứng và gỗ mềm [8]. Hemicellulose là những heteropolysaccharide cùng với cellulose có ở màng tế bào thực vật, không hòa tan đƣợc trong nƣớc nhƣng hòa tan đƣợc trong dung dịch kiềm và bị thủy phân bởi acid dễ dàng hơn so với cellulose.
6 Hemicellulose liên kết một phần với lignin bởi các liên kết cộng hóa trị, trong khi đó mối liên kết giữa hemicelluloses và cellulose là thông qua liên kết hydro. Trong dạ cỏ loài động vật nhai lại có những vi khuẩn đặc biệt chứa enzyme cellulase phân giải đƣợc cellulose. Cellulose và hemicellulose là những hợp chất có thể tiêu hóa đƣợc.Nhƣng cấu tạo cellulose trong của vách tế bào rơm rạ qua nhiều liên kết và cấu trúc không gian phức tạp, nên enzyme của hệ vi sinh vật không dễ dàng tác động đƣợc. Lớp ngoài thành tế bào đƣợc tạo thành chủ yếu từ các phức chất lignohemicellulose mà các enzyme vi sinh dạ cỏ phân giải chậm làm cản trở những lớp cellulose bị tác động của hệ enzyme vi sinh vật.
Để nâng cao tỷ lệ tiêu hóa của rơm rạ và các chất xơ khác, các nhà nghiên cứu đã tiến hành xử lý rơm bằng nhiều phƣơng pháp nhƣ: lý học, hóa học, vi sinh vật [9, 10]. Thành phần thứ ba đáng chú ý trong xơ là lignin, lignin luôn đi kèm với cellulose và hemicellulose trong thành phần tế bào, không hòa tan trong nƣớc, trong các dung môi hữu cơ bình thƣờng và rất bền vững bởi enzyme của hệ sinh vật dạ cỏ. Nhƣng dƣới tác dụng của kiềm thì lignin một phần bị phân giải và chuyển vào dung dịch. Lignin là polymer có nhiều thứ hai trên trái đất sau cellulose, lignin chủ yếu bao gồm ba loại cấu trúc chủ yếu là monolignols, hydroxycinnamyl (p- coumaryl, coniferyl và rƣợu sinapyl) liên kết với nhau bằng các loại liên kết ether và carbon-carbon khác nhau nhƣ β-O-4, 4-O- 5, -, β- 1 và β- 5 để tạo ra các đơn vị phenylpropanoid nhƣ p - hydroxyphenyl (H), guaiacyl (G) và syringyl (S).
Trong số này, liên kết β-O-4 là liên kết ether chiếm ƣu thế nhất (khoảng 40 - 60%) trong rơm rạ. Lignin đƣợc gắn vào carbohydrate bởi este benzyl, ete benzen và phenyl glycoside. Do các mối liên kết hóa học và liên kết vật lý chặt chẽ này, rất khó để loại bỏ lignin ở dạng nguyên sinh của nó [11]. Giá trị kinh tế của rơm rạ Thành phần đã phân tích ở trên cho thấy nguồn giá trị từ rơm chƣa đƣợc quan tâm đúng mức trong thời gian dài, phần lớn rơm rạ thƣờng để mục, tự phân hủy ở ngoài đồng ruộng hay đốt tại chỗ để trả lại khoáng chất cho ruộng, phần còn lại đƣợc đem về làm thức ăn cho gia súc, phục vụ đun nấu 7 trong gia đình hay trồng nấm rơm.
Hơn 20% rơm đƣợc sử dụng trong khi khoảng 50% rơm bị đốt cháy hoặc để lại trên đồng ruộng, họ sẵn sàng cho vụ mùa tiếp theo. Đốt rơm không những ảnh hƣởng khí nhà kính mà còn ô nhiễm độc hại đã đƣợc báo cáo mà còn góp phần đến hen suyễn và các rối loạn hô hấp khác ở trẻ nhỏ và ngƣời già [12, 13]. Do đó, cần phải phát triển các giải pháp nghiên cứu mới nhằm tận dụng rơm để nông dân nhận đƣợc lợi nhuận cao hơn cho việc thu gom từ ruộng và kềm chế đốt rơm gây thêm ô nhiễm môi trƣờng. Năm 2009, dữ liệu báo cáo của Tổ chức Nông Lƣơng của Liên Hợp Quốc lúa đƣợc trồng chủ yếu ở vùng khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, tuy nhiên một số ít sản xuất lúa ở vùng khí hậu Địa Trung Hải.
Khu vực sản xuất lúa gạo tập trung ở Châu Á là chính, trong đó 2 vùng sản xuất lớn là Nam Á và Đông Nam Á. Đối với lúa mì, các nhà sản xuất chính đƣợc đặt tại Nam Á, Đông Âu, Bắc Mỹ và Đông và Trung Á. Đối với Liên minh châu Âu, lúa mì là loại cây trồng chiếm ƣu thế hơn so với trồng lúa gạo.Thống kê sản lƣợng lúa gạo và sản lƣợng rơm đƣợc tạo ta trên toàn thế giới nêu trong bảng 1. Số liệu thống kê sản lƣợng gạo và rơm rạ trên thế giới (FAO).