MỞ ĐẦU Staphylococcus aureus (hay còn gọi là tụ cầu vàng) thuộc nhóm vi khuẩn Gram dương. Chúng thường hiện diện trên bề mặt da của cơ thể người, là một vi khuẩn gây bệnh cơ hội khi hệ miễn dịch vật chủ bị yếu đi, hay trong quá trình phẫu thuật sử dụng các thiết bị y tế xâm lấn, hoặc do các vết thương hở. Một khi xâm nhiễm vào trong cơ thể vật chủ, chúng gây ra các bệnh như nhiễm trùng da và mô mềm nhẹ, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, viêm tủy xương, nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi có nguy cơ gây tử vong [1]. Với sự xuất hiện của các chủng đa kháng kháng sinh, việc điều trị các bệnh nhiễm trùng liên quan đến S.
aureus trở nên khó khăn do phải kéo dài thời gian cũng như gia tăng chi phí điều trị các bệnh liên quan, trở thành một gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân cũng như cho cộng đồng [2, 3]. Bên cạnh đó, việc hình thành biofilm trên S. aureus giúp cho chúng tăng khả năng chống chịu với điều kiện stress môi trường sống và các thuốc điều trị hiện nay, khiến việc tái nhiễm các tác nhân này xảy ra liên tục. Ngoài ra, việc hình thành màng sinh học (biofilm) trên các dụng cụ y tế cũng như trong quá trình xâm nhiễm vào vật chủ khiến cho việc xử lý loại bỏ hoàn toàn tác nhân gây bệnh này trở nên khó khăn [4].
Đồng thời, trong quá trình hình thành biofilm, các tác nhân gây bệnh này cũng tiết ra các chất điều hòa trong quá trình xâm nhiễm, có tác dụng như ngoại độc tố. Các yếu tố độc lực này giúp vi khuẩn xâm nhập vào vật chủ, phá vỡ lá chắn miễn dịch của vật chủ, xâm nhập mô, gây nhiễm trùng huyết và gây ra các hội chứng do độc tố tiết ra như nhiễm trùng máu, chứng sốc nhiễm độc, hội chứng da có vảy và viêm dạ dày ruột [5, 6]. Hiện nay, vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả đối với việc nhiễm trùng biofilm do S. aureus gây ra [3].
Nhiều phương pháp trị liệu thay thế thuốc kháng sinh đã và đang được nghiên cứu trong cuộc chiến chống lại tác nhân gây bệnh liên quan đến biofilm như vaccine, ứng dụng nano, CRISPRi, v. Một trong những hướng nghiên cứu được quan tâm là phát triển các chất/hợp chất từ dược liệu có khả năng ức chế quá trình hình thành biofilm và các tín hiệu điều hòa sự hình thành biofilm liên quan tới mật độ vi khuẩn (quorum sensing - QS) [8]. Khoảng 47% các loại thuốc mới có nguồn gốc từ 2 các nguồn nguyên liệu tự nhiên, cung cấp nhiều loại chất hóa học và chiết xuất có hoạt tính kháng khuẩn mạnh [9]. Có nhiều bằng chứng cho thấy các chất chiết xuất từ thực vật, phân đoạn, hoạt chất từ thực vật có khả năng được phát triển như các tác nhân ngăn chặn hoặc liệu pháp chống lại nhiễm trùng do biofilm [8, 9].
Việt Nam là nước có trữ lượng dồi dào nguồn thực vật cũng như các bài thuốc dân gian điều trị các bệnh nhiễm trùng. Trong đó Tô mộc (Caesalpinia sappan L.) được biết đến trong bài thuốc dân gian có tác dụng kháng khuẩn, kháng viêm, tẩy giun sán, kháng nấm, v. Nhiều nghiên cứu cũng đã chứng minh được tiềm năng kháng khuẩn của Tô mộc ở các cao chiết thô và hợp chất phân lập được [11, 12]. Những hạn chế của việc sử dụng kháng sinh, nhu cầu cấp thiết để phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả nhiễm trùng do tác nhân là S.
aureus và tiềm năng hoạt tính sinh học từ Tô mộc, là cơ sở để thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng ức chế hình thành biofilm và độc lực ở Staphylococcus aureus của cao chiết Tô mộc”. Với mục đích trên, đề tài được tiến hành với các nội dung sau: - Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn của cao chiết Tô mộc. - Đánh giá khả năng ức chế hình thành biofilm của cao chiết trên S. - Đánh giá khả năng làm giảm độc lực của S.
aureus bằng cao chiết. - Đánh giá con đường ức chế điều hòa sự hình thành biofilm và giảm độc lực ở S. aureus của cao chiết. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giới thiệu về Staphylococcus aureus S. aureus hay còn gọi là tụ cầu vàng, được bác sĩ phẫu thuật Alexander Ogston phát hiện lần đầu tiên vào năm 1880 tại Aberdeen, Scotland, được phân lập từ những bệnh nhân bị lở loét. aureus thuộc chi Staphylococcus, Firmicutes, là khuẩn gram dương, kích thước khoảng 0,8µm. Chúng có hình dạng “chuỗi nho” khi quan sát dưới kính hiển vi, sinh trưởng ở điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí; và phát triển tối ưu ở nhiệt độ 37◦C, pH 7,4 [13].
Trên đĩa thạch máu, khuẩn lạc có dạng tròn, dày và sáng với đường kính khoảng 1-2 mm. Hầu hết chúng có khả năng ly giải máu, hình thành các vòng máu bị phân giải trong suốt xung quanh khuẩn lạc khi được nuôi cấy trên đĩa thạch máu. Chúng không sinh bào tử cũng như không có các tiên mao để di chuyển, tuy nhiên chúng sở hữu lớp nhầy, có khả năng tạo ra chất màu màu vàng sáng, và có thể phân giải mannitol. Về mặt sinh hóa, chúng cho phản ứng dương với các thử nghiệm coagulase huyết tương, deoxyribonuclease và lên men đường lactose [14].
Khả năng gây bệnh và độc tố liên quan của S. aureus là một trong những tác nhân gây bệnh chính trong nhiễm trùng bệnh viện và cộng đồng [1]. Quá trình nhiễm trùng S. aureus bao gồm năm giai đoạn, đó là: (1) tiếp xúc với vi khuẩn, (2) nhiễm trùng tại chỗ, (3) lan truyền toàn thân và / hoặc nhiễm trùng huyết, (4) nhiễm trùng di căn và (5) nhiễm độc tố.
aureus thường cư trú ở vùng da và không gây nhiễm trùng trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng nếu không xuất hiện các điều kiện thuận lợi như vết thương hở. Quá trình xâm nhiễm đến lây nhiễm xảy ra dưới một số yếu tố như nằm viện kéo dài, hệ miễn dịch bị suy yếu, quá trình phẫu thuật, sử dụng các thiết bị y tế xâm lấn và các bệnh chuyển hóa mạn tính. Các mụt nhọt ở da phát triển và xuất hiện khi vi khuẩn này xâm nhập vào trong da từ vị trí xâm nhiễm. Điều này có thể phát tán mầm bệnh hơn nữa và dẫn đến các biểu hiện lâm sàng khác nhau của các bệnh nhiễm trùng khu trú như mụn nhọt, viêm mô tế bào, bệnh chốc lở hoặc nhiễm trùng vết thương.
aureus có thể xâm nhập vào máu và lây lan đến các cơ quan khác nhau gây nhiễm trùng huyết. Sự lây lan qua đường huyết này có thể dẫn đến viêm nội tâm mạc, viêm tủy xương, viêm thận, viêm 4 khớp nhiễm trùng và các áp xe ngoài màng cứng. Ngoài nhiễm trùng máu, các hội chứng khác có thể xảy ra do ngoại độc tố của S. aureus là hội chứng sốc nhiễm độc, hội chứng da có vảy và viêm dạ dày ruột do ngộ độc thực phẩm [5].
Các bệnh nhiễm trùng do S. aureus nghiêm trọng trên lâm sàng là nhiễm trùng huyết, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, nhiễm trùng da và mô mềm, nhiễm trùng xương và nhiễm trùng phổi. Các nhiễm trùng lâm sàng khác là áp xe ngoài màng cứng, viêm màng não, hội chứng sốc nhiễm độc và nhiễm trùng đường tiết niệu [6]. aureus sở hữu nhiều yếu tố độc lực.
Các yếu tố độc lực này giúp vi khuẩn xâm nhập vào vật chủ, phá vỡ lá chắn miễn dịch của vật chủ, xâm nhập mô, gây nhiễm trùng huyết và gây ra các hội chứng do độc tố tiết ra [5]. Dựa trên cơ chế hoạt động và vai trò trong quá trình phát bệnh, các yếu tố độc lực của tụ cầu vàng được phân loại và trình bày trong Bảng 1. Phân loại một số độc tố và đặc điểm của chúng trong quá trình xâm nhiễm của S. aureus Yếu tố Đặc điểm, vai trò Giúp bám vào mô vật chủ Các thành phần bề Các protein bề mặt của vi khuẩn tương tác với các thành phần mặt vi sinh vật của tế bào chủ như collagen, fibronectin và fibrinogen, do đó, nhận biết các phân thúc đẩy quá trình bám vào mô chủ.
Protein A của tử kết dính trong Staphylococcus (SPA), protein bám fibronectin A và B, chất nền của vật protein bám collagen và yếu tố kết cụm (clumping factor) A chủ và B thuộc nhóm yếu tố này. Các yếu tố này cũng tham gia (MSCRAMM) vào quá trình lẩn trốn hệ thống miễn dịch của vật chủ. Phá vỡ/ trốn tránh hệ thống miễn dịch Polysaccharide Chống lại sự thực bào và tiêu diệt bởi các tế bào thực bào đa microcapsule nhân. Protein A Liên kết với phần Fc của kháng thể, ngăn cản quá trình opsonin hóa, hoạt động như siêu kháng nguyên và hạn chế phản ứng miễn dịch của vật chủ Panton-Valentine PVL được tìm thấy trong hầu hết các MRSA lây nhiễm trong leukocidin (PVL) cộng đồng (CA-MRSA).
PVL thuộc nhóm protein tạo lỗ trên màng. Nó bao gồm hai thành phần protein (LukS-PV và LukF-PV) hoạt động cùng nhau như các tiểu đơn vị và tạo thành các porin trên màng tế bào của tế bào chủ, dẫn đến rò rỉ các thành phần bên trong và làm chết tế bào. 5 Độc tố alpha Đây là ngoại độc tố vi khuẩn đầu tiên được xác định, là (alpha toxin hay nguyên nhân tạo lỗ trên màng tế bào, dẫn đến rò rỉ và làm alpha hemolysin) chết tế bào. Protein ức chế khả CHIPS là một protein ngoại bào ức chế hoạt động hóa học năng hóa ứng động của bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân.
tế bào của S. aureus (CHIPS) Xâm nhập mô Protein kết dính Một loại protein ngoại bào có khả năng bám vào chất nền của ngoại bào tế bào chủ, protein huyết tương và phân tử kết dính tế bào nội (Extracellular mô ICAM-1. Ngoài vai trò kết dính và xâm nhập, nó còn có adherence protein hoạt động điều hòa miễn dịch - Eap) Proteases, lipases, Những enzym ngoại bào này gây tổn thương mô, giúp cho tế Staphylokinase, bào vi khuẩn thâm nhập vào bên trong vật chủ nucleases, hyaluronatelyase, phospholipase C và metalloproteases (elastase). Gây độc tố Độc tố ruột S.
aureus tạo ra rất nhiều độc tố ruột là những ngoại độc tố (enterotoxin) mạnh ở đường tiêu hóa. Ngộ độc thực phẩm do Staphylococcus là tình trạng nhiễm độc do tiêu thụ thực phẩm có chứa một lượng lớn độc tố ruột đã được hình thành trước. Độc tố hội chứng TSST-1 và một số độc tố ruột được gọi là siêu kháng nguyên sốc nhiễm độc -1 độc tố gây sốt. TSST-1 gây ra hội chứng sốc nhiễm độc, đặc (Toxic shock biệt ở phụ nữ đang trong thời kỳ kinh nguyệt.
syndrome toxin -1 - TSST-1) Độc tố gây bong Là các serine protease nhận biết và thủy phân một cách chọn tróc A và B lọc các protein liên kết trong da.