MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nền nông nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây luôn được đầu tư và phát triển không ngừng. Nước ta thuộc điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm nên càng thuận lợi cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, cùng với điều kiện thuận lợi cho sự phát triển này thì cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng.
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) hàng năm, thiệt hại mùa màng do sâu, bệnh gây ra trung bình khoảng 20 - 30% tổng sản lượng. Do đó, việc sử dụng hoá chất BVTV đã trở thành một trong những phương pháp để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, và giữ vững an ninh lương thực quốc gia. Trong những năm gần đây việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân đã gây những tác động không tốt đến sức khỏe người dân và môi trường xung quanh. Bên cạnh những ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật thì ô nhiễm do bao gói các loại thuốc bảo vệ thực vật cũng là một trong những vấn đề nan giải đối với khu vực canh tác nông nghiệp ở khu vực nông thôn.
Mặc dù đã có những hướng dẫn kỹ thuật quản lý, xử lý bao gói hóa chất BVTV nhưng ở một số địa phương, người dân vẫn còn chưa ý thức được việc thải bỏ bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng sao cho hợp vệ sinh, tránh gây nên ảnh hưởng không tốt cho cộng đồng. Theo Chi cục Trồng trọt - BVTV, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam, mỗi năm nông dân trong tỉnh sử dụng khoảng 150 tấn thuốc BVTV phòng trừ sâu, bệnh cho lúa, rau màu và cây ăn quả các loại. Với tỷ lệ chiếm khoảng 12 - 15%, lượng vỏ thuốc BVTV khoảng 18 - 22,5 tấn. Sẽ rất độc hại đến môi trường nếu toàn bộ lượng vỏ bao này bị vứt bỏ ra môi trường 1 đồng ruộng.
Điều đáng lo ngại hơn là các bao bì này phần lớn không được xúc, tráng kỹ nên vẫn còn một lượng thuốc đáng kể dính trong vỏ bao, khi vứt ra môi trường sẽ thấm vào nguồn đất, nguồn nước và tích tụ qua hàng vụ, hàng năm sản xuất sẽ rất nguy hiểm. Xã Liêm Sơn thuộc huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp là 720,71 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa là 529,67 ha; đất trồng cây hàng năm khác là 34,61 ha. Đây là một xã sản xuất nông nghiệp lớn, cung cấp lương thực thực phẩm chủ yếu huyện Thanh Liêm. Hàng năm ngoài hai vụ lúa chính là chiêm và mùa, thì người dân nơi đây còn tiến hành trồng cây vụ đông để tăng vụ, nâng cao thu nhập.
Năm 2020, toàn xã tiến hành trồng được 13,53 ha cây màu các loại bao gồm ngô, dưa chuột, cà chua, đỗ, su hào, khoai tây và các loại rau màu khác. Với diện tích trồng cây vụ đông như vậy, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thường xuyên cũng như việc phát sinh bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng là điều không tránh khỏi. Phần lớn người dân chỉ phun thuốc trừ sâu hại lúa theo thông báo của cán bộ bảo vệ thực vật tại cơ sở, còn lại trên cây hoa màu đều do bà con sử dụng dựa trên kinh nghiệm cá nhân là chủ yếu. Đây cũng chính là lý do để tôi tiến hành đề tài: “Đề xuất giải pháp kĩ thuật quản lí và xử lý bao gói hóa chất bảo vệ thực vật trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”.
Mục tiêu nghiên cứu + Xác định hiện trạng phát sinh bao gói hóa chất BVTV trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. + Đánh giá hiện trạng quản lí và xử lí hóa chất BVTV của người dân trên đất trồng cây vụ đông tại xã Liêm Sơn, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. + Đề xuất một số giải pháp kĩ thuật cho việc quản lí và xử lý bao gói hóa chất BVTV phù hợp với địa phương. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 1. Khái niệm về thuốc BVTV Thuốc BVTV là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; chế phẩm điều hòa sinh trưởng thực vật, chất làm rụng hay khô lá; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt (Nguyễn Trần Oánh và cs, 2007). Ngày nay khoa học đã đạt được những thành tựu to lớn về nhiều mặt như: sinh thái học dịch hại, miễn dịch thực vật,… nhiều biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại bằng biện pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, quản lí dịch hại tổng hợp… nhưng thuốc BVTV vẫn có vai trò to lớn trong việc kiểm soát dịch bệnh trong nông nghiệp.
Đặc biệt, đối với người nông dân, việc sử dụng thuốc BVTV được coi là phương pháp đơn giản, hiệu quả và được áp dụng thường xuyên. Phân loại thuốc BVTV Hiện nay, thuốc BVTV đang được sử dụng rộng rãi và phong phú cả về chủng loại lẫn số lượng. Theo Thông tư số 10/2020/TT- BNNPTNT ngày 09 tháng 9 năm 2020 Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tại Việt Nam có 1.847 hoạt chất với 4.229 tên thương phẩm, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 31 hoạt chất khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo mục đích nghiên cứu có nhiều cách để phân loại thuốc BVTV: a.Phân loại theo tính độc.
3 Trên bao bì của các loại thuốc BVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại. Trong đó đơn vị đo lường gây độc được biểu thị dưới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và được tính bằng µg/g hay mg/kg. Trường hợp gặp những cá thể sinh vật nhỏ, có kích thước khá đồng đều nhau, người ta cá thể biểu hiện bằng µg/cá thể (ví dụ: µg/ong).1 : Bảng phân loại độ độc của thuốc BVTV theo WHO Nhóm độc LD50 cho chuột (mg/kg trọng lượng cơ thể) Đường miệng Đường da Ia Cực kì nguy hiểm <5 <50 Ib Rất nguy hiểm 5 – 50 50 – 200 II Nguy hiểm vừa phải 50 - 2000 200 – 2000 III Hơi nguy hiểm >2000 >2000 U Không có khả năng nguy ≥5000 hiểm cấp tính (Nguồn: WHO, 2019) Thuốc BVTV có giá trị LD50 càng nhỏ thì chất đó có độ độc cao và ngược lại. Cho nên, khi chọn nhiều loại có cùng tác dụng như nhau thì thuốc có giá trị LD50 cao sẽ an toàn hơn so với thuốc có LD50 thấp b.Phân loại theo con đường xâm nhập.
Phân loại theo con đường xâm nhập hay cách tác động của thuốc đến dịch hại: Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường tiếp xúc (còn gọi là những thuốc ngoại tác động): là những thuốc gây độc cho sinh vật khi thuốc xâm nhập qua biểu bì chúng. Thuốc xâm nhập vào cơ thể dịch hại bằng con đường vị độc (còn gọi là những thuốc có tác động đường ruột hay nội tác động): là những loại thuốc gây 4 độc cho động vật khi thuốc xâm nhập qua đường tiêu hóa của chúng. Độ pH dịch ruột và thời gian tồn tại của thuốc trong dạ dày và ruột non ảnh hưởng rất mạnh đến hiệu quả của thuốc. Thuốc có tác động xông hơi: là những thuốc có khả năng bay hơi/ bụi, đầu độc bầu không khí bao quanh dịch hại và gây độc cho sinh vật khi thuốc xâm nhập qua đường hô hấp.
Thuốc có tác động thấm sâu: là những thuốc có khả năng xâm nhập qua biểu bì thực vật, thấm vào các tế bào phía trong, diệt dịch hại sống trong cây và các bộ phận của cây. Các thuốc này chỉ có tác động theo chiều ngang, mà không có khả năng di chuyển trong cây. Thuốc có tác động nội hấp: là những loại thuốc có khả năng xâm nhập qua thân, lá, rễ, và các bộ phận khác của cây; thuốc dịch chuyển được trong cây, diệt được dịch hại ở những nơi xa vùng tiếp xúc của thuốc. Phân loại theo nguồn gốc hóa học.
Thuốc BVTV phân loại theo nguồn gốc hóa học được phân thành 4 nhóm như sau: Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài kí sinh thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh …) có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi…) có khả năng tiêu diệt dịch hại. Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbonat…).
Gần đây, do nhiều dịch hại đã hình thành tính chống nhiều loại thuốc có cùng một cơ chế, nên người ta đã phân loại theo cơ chế tác động của các loại thuốc như: thuốc kìm hãm men (cholinesterase, GABA, kìm hãm hô hấp…) 5 hay theo phương thức tác động (thuốc điều khiển sinh trưởng côn trùng, thuốc triệt sản, chất dẫn dụ, chất xua đuổi hay chất gây ngán). Phân chia theo các dạng thuốc (thuốc bột, thuốc nước…) hay phương pháp sử dụng (thuốc dùng để phun lên cây, thuốc xử lí giống…) Ngoài cách phân chia chủ yếu trên, tùy mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại thuốc BVTV theo nhiều cách khác. Không có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối, vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại khác nhau, có khả năng xâm nhập vào cơ thể dịch hại theo nhiều con đường khác nhau, có cùng lúc nhiều cơ chế tác động khác nhau; trong thành phần của thuốc có các nhóm hay nguyên tố gây độc khác nhau… nên các thuốc có thể cùng lúc xếp vào nhiều nhóm khác nhau. Phân loại theo công dụng.